Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Xôi ngũ sắc Tây Bắc

Xôi ngũ sắc từ lâu đã được biết đến là đặc sản ẩm thực của vùng Tây Bắc. Điều thú vị là 5 màu sắc tạo thành một tổng thể, tượng trưng cho âm dương ngũ hành, cho tình đoàn kết của các dân tộc anh em. Nhưng, mỗi màu sắc cũng có thể đứng độc lập, mang ý nghĩa riêng gắn với từng dân tộc.

Người Thái Mường Lò đã định cư ở vùng đất Tây Bắc từ lâu đời. Họ có bản sắc văn hoá độc đáo, đặc biệt là văn hoá ẩm thực. Món xôi ngũ sắc là đặc sản hội tụ những giá trị truyền thống và hiện đại, mang ý nghĩa triết lý âm dương và nhân sinh cao đẹp.

< Cơm xôi tím ngâm từ lá cây gừng mọc ở rừng.

Tại nhà anh Vi Quang Thuật ở bản Hốc, xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, chúng tôi có dịp tìm hiểu về món xôi ngũ sắc. “Các già làng trong bản đã từng nói với anh rằng, xôi ngũ sắc thể hiện tình đoàn kết của các dân tộc anh em vùng Tây Bắc.

< Gạo nếp Tú Lệ được ngâm với nước từ cây cơm xôi đỏ.

5 màu sắc khác nhau nhưng cùng hội tụ lại thành một tổng thể gắn kết”, anh Thuật vừa chế biến xôi vừa nói với trò chuyện. Sau đó, anh tiếp tục câu chuyện với vẻ mặt hơi buồn: “Dù rất cố gắng nhưng mùa này lá cây gừng còn non và xanh nên anh không kịp tìm để làm màu xanh của xôi”. Vậy nên, chúng tôi chỉ mới vinh dự được thưởng thức món “xôi tứ màu” của bản.

< Gạo nếp Tú Lệ được ngâm bằng nước suối Mường Lò. Sau khi nhuộm màu, các cô gái Thái cho từng lớp vào chõ để đồ.

Ngày trước, món xôi ngũ sắc chỉ được làm vào những ngày hội lớn, ngày lễ tết hay cưới hỏi... nhưng, giờ nó trở thành món ẩm thực phổ biến trong đời sống, thể hiện sự hiếu khách của chủ nhà. Tùy vào mức độ thân thiết của khách với chủ nhà mà có khi chỉ đồ xôi nhị màu, tam màu… Nhìn vào đó có thể biết được quan hệ mật thiết của chủ nhà với khách. Đúng là mỗi dân tộc đều có sự tinh tế riêng của nó.

Để làm món xôi ngũ sắc thì việc đầu tiên là phải chọn gạo. Gạo để đồ xôi nhất định phải là gạo nếp Tú Lệ (còn gọi là nếp Tan Lả - theo tiếng của người Thái). Loại gạo nếp đặc sản vừa thơm, vừa dẻo, nổi tiếng nhất vùng thung lung lòng chảo Mường Lò. Nước đồ xôi phải là nước suối Mường Lò thì xôi mới thơm ngon.

Lúa ở Tú Lệ chín theo mùa, một năm có một vụ vào tháng 9, tháng 10, mùa nước đổ vào tháng 2, tháng 3 năm sau. Gạo nếp ở đây từ lâu đã nổi tiếng trong dân gian là một trong những loại nếp dẻo thơm bậc nhất. Hạt gạo nếp Tú Lệ trứ danh đều, dài, căng mẩy, hạt nào hạt nấy nhìn trong veo rất ngon mắt.

Cầm một nắm gạo nếp Tú Lệ trên tay, thấy nặng mà mát mượt như nhung. Thứ gạo ấy đồ lên, chẳng cần thêm nước dừa nước yến gì mà xôi vẫn cứ thơm, dẻo, ngọt từng hạt một. Dẻo mềm mà không bị ướt, bị dính. Ngọt mà càng nhai kỹ thì lại thấy bùi. Bùi mà không béo, không ngấy, ăn vào không thấy ngán, không thấy đầy đầy, ứ ứ như các loại xôi nếp thông thường khác.

Các loại lá rừng dùng để nhuộm màu được lựa chọn kỹ lưỡng, lá không được quá non hay quá già. Sau đó rửa sạch nấu với nước lấy từ suối nguồn ở xã Tú Lệ. Khi đã có nước màu, gạo nếp được cho vào ngâm khoảng 10 tiếng rồi vớt ra để ráo nước. Màu đỏ thì dùng lá cây có tên gọi là cơm xôi đỏ hay vào mùa gấc chín có thể lấy gấc làm màu xôi đỏ. Làm món xôi đen, có thể dùng gạo nếp có hạt gạo màu đen giống như nếp cẩm nhưng hạt tròn, to hơn, song người ta dùng lá cây gừng mọc ở rừng hoặc ven khe suối đốt lấy tro ngâm nước rồi gạn lấy nước trong để ngâm gạo. Làm món xôi vàng chỉ cần lấy củ nghệ già, giã nhỏ pha với nước ngâm gạo rồi đồ xôi là được.

Mỗi màu có một ý nghĩa riêng. Màu đỏ là màu tượng trưng cho khát vọng, màu tím tượng trưng cho trời đất trù phú, màu vàng tượng trưng cho sự no đủ, màu xanh tượng trưng cho núi rừng Tây Bắc, màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng và sự thủy chung. Ngoài ra, mỗi gam màu của xôi thể hiện sống động màu sắc trên chính trang phục của những thiếu nữ Thái.

Những ai có dịp thưởng thức món xôi này đều có chung cảm nhận và ấn tượng khó quên không chỉ bởi cái dẻo thơm từ hạt nếp Tú Lệ mà còn bị lôi cuốn bởi sự hòa quyện màu sắc của nó. Đây cũng là điều đặc biệt so với món xôi của các vùng, miền khác, một sự sáng tạo của phụ nữ Thái nói riêng và những dân tộc vùng Tây Bắc nói chung.

Truyền thuyết kể rằng xa xưa tổ tiên người Thái được các vị tiên giáng trần ban cho một loại thóc giống với lời dặn phải tìm nơi khí hậu, đất đai phù hợp gieo trồng để có loại lúa nếp thơm ngon đặc biệt. Vâng lời, người Thái đã du cư khắp các vùng Tây Bắc tìm đất gieo hạt mà không nơi nào như ý.

Chỉ đến khi gặp thung lũng phì nhiêu dưới chân đèo Khau Phạ, nhờ dòng nước mát trong từ con suối Mường Lống nuôi dưỡng, giống lúa nếp “trời ban” ấy mới khoe hết những phẩm chất của mình. Người ta còn kháo nhau gạo nếp Tú Lệ phải ngâm và đồ bằng nước suối trong vắt chảy ra từ những con suối đầu nguồn trên đỉnh Khau Phạ mới là thứ xôi nếp ngon nhất...

Du lịch, GO! - TTổng hợp từ VNP, TTO.

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

Về Đầm Dơi nhậu loài 'kỳ lạ' nhất hành tinh

Sáng sớm vừa xuống máy bay, còn cách xã Tân Tiến (huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau) đến 40km, tôi đã nhận được tin ông anh đã chuẩn bị sẵn tiệc rượu để “lấy ngót” (thay cho ăn sáng) chào đón thằng em đến từ “nước Huế”.

< Về Đầm Dơi nhậu loài... kỳ lạ nhất hành tinh.

Tôi về đến nơi thì xế trưa, lúc này mọi người đã chuyển qua giai đoạn “quắc cần câu”. “Đây là một trong 6 động vật kỳ lạ nhất hành tinh” - tôi gần như reo lên khi thấy trên bàn cơ man nào là cá thòi lòi được chế biến đủ kiểu. Nghe thế, mọi người dừng đũa cùng “hẹn” nhau… sặc cười, chút nữa là bắn “thòi lòi” lên mặt khách.

“Thiệt hay giỡn đó, chú hai? Tui nhậu cá thòi lòi đến nay đã hơn 30 năm, giờ mới lần đầu tiên nghe nói cái gì là động vật kỳ lạ nhất hành tinh đó nghe” - ông anh tôi thắc mắc. “Nhưng nó kỳ lạ thế nào, chú Hai nói nghe thử coi” - ông anh khác tên là Sáu Tuấn lè nhè. Là hỏi cho vui, cho có chuyện vậy thôi, chứ dân miền Tây- đặc biệt là các “ma men”, chẳng ai thèm quan tâm đến việc quốc tế người ta gọi cá thòi lòi là gì, nó có quý hiếm hay không...

“Cá… leo cây”

Vào Ngày Quốc tế về Trái đất năm trước (24.2.2011), Tổ chức Sinh vật thế giới đã đề cập đến một số con vật kỳ lạ mà hiểu biết của con người về chúng còn khá sơ sài. Đáng lưu ý, trong số 6 con vật “kỳ lạ nhất hành tinh” được nêu danh có cá thòi lòi - một loài vật khá quen thuộc có mặt tại nhiều khu rừng ngập mặn tại Cần Giờ, đất Mũi Cà Mau, U Minh Thượng... thuộc khu vực ĐBSCL, Việt Nam. Chúng được các nhà khoa học thế giới quan tâm đến như một hình mẫu về tiến hoá và lọt vào danh sách 6 loài động vật kỳ lạ nhất hành tinh, bởi các đặc điểm có một không hai của mình.

Bất ngờ là “ma men” Sáu Tuấn - một người nuôi tôm tại nơi hẻo lánh như Tân Tiến, Đầm Dơi, Cà Mau, năm nay đã ngoài 50 tuổi - mới lần đầu tiên nghe chuyện “cá thòi lòi là động vật kỳ lạ nhất hành tinh”, nhưng lại có những hiểu biết về cá thòi lòi không thua gì các nhà khoa học.

Sáu Tuấn tả:  Ngay từ hình dáng, cá thòi lòi đã tỏ ra “dị hợm” so với các loài cá thông thường bởi đôi mắt lồi như mắt ếch, nhô hẳn trên đỉnh đầu. Cái tên gọi “thòi lòi” bắt nguồn từ chính đôi mắt này. Nhưng điều lạ lùng khiến cá thòi lòi chẳng giống bất cứ loài cá nào là ở chỗ chúng có thể sống, chạy, nhảy và kiếm mồi... ngay trên cạn một cách rất điêu luyện.

Điều làm nên sự “phi thường” này chính là cấu tạo cơ thể khá đặc biệt: Cá thòi lòi thở bằng phổi và mang nên chúng có thể hô hấp khi lên cạn, trao đổi khí qua da như ếch và đôi vây trước có hệ cơ phát triển đóng vai trò như một đôi “tay”. Cũng nhờ cấu tạo cơ thể đặc biệt mà cá thòi lòi còn có một khả năng hy hữu khác là... leo cây.

“Dân ở đây thường gọi thòi lòi là cá leo cây. Rất nhiều lần khi đi xuồng ngoài vuông (hồ tôm), tui chứng kiến hắn làm nhiều “trò khỉ” như trèo vắt vẻo trên những cây đước, mắm..., nhưng có người đến gần thì chúng nhảy tõm xuống sông” - ông Sáu kể.

Cũng theo ông Sáu, cá thòi lòi thường chọn nơi “hiểm” để đào hang trú ẩn như các lùm cây, kẹt rễ um tùm. Hang của chúng có thể sâu đến 2m, với nhiều ngóc ngách. Chúng cũng rất tinh ranh và nhanh nhẹn trong việc trốn thoát khỏi sự tấn công của kẻ thù. Thói quen của cá thòi lòi khá dễ nhận biết, nước ròng thì chui vào hang, nước lớn thì ra ngoài kiếm ăn. Những bãi bồi nhiều bùn lầy quanh mé sông ngập mặn là địa bàn “yêu thích” của chúng.

Chưa kịp lớn đã… chết

“Ăn nhiều đi, chú Hai” - ông Sáu gắp bỏ vào chén tôi nguyên con cá thòi lòi nướng cháy cỡ 3 ngón tay còn lồi hai mắt. Ông bảo đây là cá con, cá thòi lòi trưởng thành có thể to bằng cổ tay người lớn (tương đương 300 - 400gr).

“Cách đây chừng 5 năm, anh Sáu toàn nhậu cá bự, nhưng giờ người ta săn bắt dữ quá, cá chưa kịp lớn thì đã bị giết thịt mất rồi, đà này sắp tới có khi cá con cũng không còn mà ăn”.

Theo ông Sáu thì trái với vẻ gớm ghiếc bề ngoài, thịt cá thòi lòi rất mềm và thơm ngon. Điểm đặc biệt là thịt cá sau khi chế biến, để nguội vẫn không có mùi tanh. Các món được làm từ cá thòi lòi rất phong phú như nướng chấm mắm, lột da kho tiêu, hấp cách thuỷ, cuốn bánh tráng rau sống, canh chua...

“Hôm nay tôi sẽ đãi ông đủ bốn loài cá đặc sản đất Mũi, gồm: Bóp, rốn, lòi, chim” - một đồng nghiệp của tôi đùa mà thật khi chúng tôi vừa đặt chân lên nhà hàng ở ấp Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau. “Lòi” trong bốn loài cá vừa kể là cá thòi lòi. Trở thành một món ăn đặc sản, được ưa chuộng không chỉ tại nơi sinh ra nó, mà còn tận các nhà hàng ở TP.Hồ Chí Minh và xa hơn là một trong những lý do khiến cá thòi lòi hiện chưa kịp lớn đã... qua đời (!).

Trong một chiếu rượu khác cũng ở  ấp Mũi, ông Tư Sơn - một người chuyên săn bắt cá thòi lòi để bán cho khu du lịch Đất Mũi bên cạnh - ví von: “Có ổng khách từ Bắc Kỳ nói với tui, về đây được ăn thịt cá thòi lòi là một niềm vui lớn về ẩm thực. Nhưng tui thấy, được đi bắt cá thòi lòi còn vui hơn”.

Tàn rượu, ông Tư Sơn dẫn tôi ra bãi bồi ngoài bờ biển để xem ông bắt cá. Trước hết, bài học đầu tiên mà ông Tư Sơn dạy tôi là phân biệt hang có cá.

“Đó là những hang cá thòi lòi, nhưng không phải hang nào cũng có cá ở” - ông Tư Sơn chỉ tay vào những ụ đất nhỏ được un lên trên bãi bồi. Quanh đó, tôi phát hiện thấy hàng chục con thòi lòi đang vùng vẫy “làm trò” trên sình lầy, nhưng vừa thấy động cái là chúng lặn đâu mất. “Thòi lòi là một loài cá rất tinh ranh và sợ con người lắm. Đang chơi trên bãi vậy, chứ nhác thấy bóng người là chúng lặn ngay xuống hang”. Và kinh nghiệm của ông Tư Sơn là cứ đi, thấy hang nào bỗng dưng nước đục là đích thị một chú thòi lòi vừa chui xuống đó. Vấn đề còn lại là “lôi cổ” chúng lên như thế nào mà thôi.

Theo ông Tư Sơn, có nhiều cách để bắt cá thòi lòi như dùng cần câu để câu vào ban ngày và dùng đèn để soi cá vào ban đêm, đặt nò, thụt, chặn hang... Tuy nhiên, cách bắt thú vị, “văn nghệ”, phổ biến và dễ nhất, lại bắt được cá sống là dùng hom. Hom là một cái bẫy to bằng cổ chân người, được bện bằng lá dừa nước, úp ngay miệng hang.

Khi chui ra khỏi hang, cá gặp phải ống hom, càng vùng vẫy chui sâu vào ống thì càng mắc kẹt, đến khi quay đầu lại không có đường ra. Người đi bắt chỉ việc mang ống lên, mở miếng chặn ở đầu ống, trút con cá ra giỏ. Vậy là xong đời một con cá thòi lòi (!).

Trở lại với câu chuyện cá thòi lòi là “một hình mẫu về tiến hoá”, “là một trong 6 động vật kỳ lạ nhất hành tinh”, ngay cả những cán bộ phụ trách thuỷ sản ở các sở NNPTNT khu vực ĐBSCL, khi tôi hỏi đến thông tin này, họ cũng chỉ ú ớ biết thông tin dạng “nghe nói chứ không rõ lắm” và... cười.

Hôm rồi, tôi có một ngày đêm quẩn quanh ở khu du lịch Đất Mũi đơn điệu, buồn tẻ và một trong những điểm dừng là nhà hàng Công đoàn với đặc sản cá thòi lòi như đã kể. Thời điểm nào ở đây cũng vắng lặng đến mức tưởng có thể nghe thấy tiếng “đất nở” dưới những rễ cây mắm, đước. Làm du khách ở đây không có chuyện gì khác ngoài ăn, uống rượu và nghĩ vẩn vơ...

Và một trong những ý tưởng vẩn vơ của chúng tôi hôm đó là tại sao khu du lịch Đất Mũi không tự làm mới, nâng cấp mình để thu hút và níu chân du khách đến với vùng đất cuối cùng của tổ quốc, trước hết là mở một tour lội sình bắt cá thòi lòi bằng cách “văn nghệ” nhất là đặt hom?

Giá trị thương mại nhỏ

Cá thòi lòi (Periophthalmodon schlosseri) là một loài cá thuộc họ cá bống trắng (Gobiidae). Một con cá thòi lòi trưởng thành có thể dài tới 27cm. Hiện cá thòi lòi là một đặc sản của miền Tây được dân nhậu săn lùng và người dân tận diệt; tuy nhiên, theo đánh giá của FishBase, cá thòi lòi chỉ có giá trị thương mại nhỏ. Hiện ở ĐBSCL, giá thị trường của 1kg cá thòi lòi tươi dao động từ 30.000 - 50.000 đồng/kg. Tuy nhiên, 1kg cá thòi lòi khô lại có giá đến 300.000 đồng, bởi theo lý giải của người dân: Phải mất 4kg cá tươi thì mới chế biến được 1kg cá khô.

Du lịch, GO! - Theo Hoàng Văn Minh (Laodong), internet

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Về Minh Hóa ăn canh trứng kiến nấu bún

Với vị béo ngậy của trứng kiến, vị chua thanh của lá bún tạo nên một món canh chua rất hấp dẫn với người dân sau những giờ lao động mệt nhọc. Ăn trứng kiến phải thật thư thả, thong dong. Người ăn cứ nhấm nháp nó từng chút một mới thấm thía cái ngon, cái hồn của hương vị quê nhà như đọng cả vào đây.

Trong quá trình hình thành, huyện miền núi rẻo cao Minh Hóa -Quảng Bình là nơi giao thoa, quần tụ của rất nhiều tộc người trong cuộc di cư đi tìm miền đất mới. Bởi vậy nơi miền sơn cước dẫu còn nhọc nhằn trong cuộc sống nhưng lại tiềm ẩn một kho tàng văn hóa, bảo lưu nhiều sắc thái đặc trưng của người Việt ở những thế kỷ trước.

Lên với Minh Hóa, không chỉ được đắm mình trong điệu hò thuốc sâu lắng, mà còn thích thú vì những món ăn truyền thống của người dân nơi đây. Ngoài cơm pồi, ốc tực, cá mát, canh giấm ông bầu, tằm lá sắn…, người dân còn có nghề “săn kiến” để chế biến món ăn-một nét văn hóa ẩm thực độc đáo chỉ có ở Minh Hóa vào mùa xuân.

Các bậc cao niên kể lại rằng, hàng năm vào khoảng cuối tháng 2 đến hết tháng 3 âm lịch, người dân Minh Hóa khi đi hái củi hay kiếm tìm những sản vật của rừng đều để ý dò xem khu vực đó có bao nhiêu... tổ kiến. Và để không mất công lội rừng vất vả, nhà nào cũng chuẩn bị cho mình một đôi thúng, một cái sàng và một cái nia để đi đánh trứng kiến về nấu “pún”, canh tòn mòn... Loài kiến có mặt khắp mọi nơi, con vật bé xíu nhưng lại có thành phần dinh dưỡng cao, ngoài ra nó còn có nhiều sinh tố và khoáng chất. Thời phong kiến, người ta dùng kiến để bào chế thành những viên thuốc tráng lực như thuốc bổ bây giờ.

Tùy theo thổ nhưỡng của từng vùng, loài kiến đen, kiến vàng thường làm tổ trên những ngọn cây ở độ cao thấp khác nhau, ngay cả những cây ăn quả trong vườn, họ nhà kiến cũng kéo về làm tổ sinh sôi. Với đôi mắt quan sát tinh tế, người dân Minh Hóa nhận biết được khi nào tổ kiến có nhiều trứng, và với kiến đen thì tổ có màu đen xám, khô, còn kiến vàng thì bao quanh ngoài tổ có lớp màng trắng bạc.

Ông Hồ Xay ở xã Trọng Hóa tâm sự, không biết tự khi nào nhưng người dân Minh Hóa từ thuở ấu thơ đến khi già như cổ thụ ở trong rừng đều được thưởng thức những món ăn chế biến từ kiến. Bởi vậy bà con nơi đây không ai phá tổ kiến bao giờ, và từ đời này sang đời khác truyền cho nhau cách nhận biết những loài kiến có ích, cũng như thời điểm “săn” hiệu quả nhất. Theo kinh nghiệm của người dân thì khi kiến chúa tách dần đàn đi gầy tổ mới, đến lúc đẻ trứng vào lúc tiết trời ấm áp, thì cũng là khi người dân Minh Hóa vào mùa khai thác trứng kiến.

Vào những ngày đầu xuân, chúng tôi đã lên với Minh Hóa để mục sở thị kỹ nghệ của nghề “săn” kiến. Phải mất gần một buổi đi rừng, chúng tôi mới tìm đến được khu vực rừng Hóa Sơn có loài kiến đen, kiến vàng sinh sống. Vừa dẫn đường, anh Đinh Hoàn ở bản Lương Năng vừa kể: Khi tìm được những tổ kiến loại to cỡ như mũ cối, người đánh trứng thường đem về nhà hoặc dùng rựa xẻ nhỏ tổ kiến ra ngay tại rừng, rồi nhanh tay đổ vào sàng đã cầm theo để lọc lấy những con kiến già và những trứng mọng sữa vào thúng.

Sau đó đổ ra nia để sẩy bụi bám và lá cây cùng những kiến con, mà chỉ để lại trứng. Nghe qua thì thấy đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể làm được, vì mỗi công đoạn là cả một kỹ năng đã được hun đúc qua bao đời nay. Ngoài việc phải trèo cây để chặt lấy tổ kiến thì khi sàng sảy cũng phải nhanh tay và khéo léo để tách trứng và kiến con, tránh trứng bị dập nát và kiến con tha mất trứng.

Trứng kiến có màu trắng đục, kích cỡ như hạt gạo tấm, hoặc có khi to như hạt gạo nguyên. Sau khi tách trứng ra khỏi kiến con thì tiếp tục nhặt lại thật sạch tạp chất để mang về chế biến canh chua.

Rời Hóa Sơn khi ánh nắng đã đổ dài trên eo Lập Cập, chúng tôi tìm đến xã Hóa Hợp để xem người phụ nữ nơi đây “đánh” kiến và chế biến món ăn dân dã này. Chị Đinh Thị Thuyết ở thôn Tân Bình bảo rằng, trứng kiến sau khi đã đãi sạch thì bà con thường đem về nấu với dưa chua như dưa cải, hay một số lá giấm khác. Nhưng hợp nhất, ngon nhất thì trứng kiến phải nấu với lá bún chua (tiếng nguồn gọi là “pún”).

Bún là loại cây hoang dại chỉ mọc ở các bờ suối, có thân gỗ, lá hình đối xứng. Loài cây này cũng chỉ ra lá non vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 3 âm lịch. Vào rừng tìm được cây lá bún, người phụ nữ khéo léo chọn những đọt (ngọn) còn non, dùng móng tay bấm nghe mềm là vừa dùng.

Đem lá bún về nhà thái sợi mịn rồi bỏ vào chum sành, thêm ít muối hạt, đường mơ, đổ thêm nước ấm khoảng 15 độ C vào và đậy kín lại, sau đó đặt cạnh bếp lửa chừng 3 ngày là lấy ra dùng được. Công đoạn ủ lá bún đòi hỏi sự khéo léo nên thường do người phụ nữ đảm nhiệm. Khi chum lá bún vần quanh bếp đã chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ và dậy mùi thơm, người dân mới bắt đầu đi đánh trứng kiến ở những tổ đã được đánh dấu từ trước.

Để có nồi canh trứng kiến nấu bún giòn ngon, người dân Minh Hóa không dùng dầu mỡ như ở dưới xuôi mà chỉ sử dụng những gia vị truyền thống dễ kiếm tìm được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với vị béo ngậy của trứng kiến, vị chua thanh của bún tạo nên một món canh chua rất hấp dẫn với người dân sau những giờ lao động mệt nhọc.

Ăn trứng kiến phải thật thư thả, thong dong. Người ăn cứ nhấm nháp nó từng chút một mới thấm thía cái ngon, cái hồn của hương vị quê nhà như đọng cả vào đây. Mang theo sự độc đáo của nghề “săn” kiến, món trứng kiến nấu lá bún đem đến cho thực khách cảm giác khó quên khi cùng hòa nhịp với rừng đại ngàn, với thiên nhiên bao đời ở Minh Hóa.

Ngày nay, món trứng kiến nấu lá bún không chỉ là món ăn thường ngày của người Minh Hóa mà còn trở thành đặc sản níu giữ chân du khách thập phương vào dịp lễ hội Rằm tháng ba hàng năm. Cùng với những làn điệu của hò thuốc, đúm ví giao duyên, hát nhà trò thì nghề “săn” kiến chế biến món ăn đã trở thành bản sắc văn hóa ẩm thực riêng biệt của người Nguồn Minh Hóa.

Trên vùng đất Cơ Sa nguyên và Kim Linh nguyên, nơi lưu giữ những tầng văn hóa truyền thống, văn nghệ dân gian của người Nguồn Minh Hóa được kết tinh trong quá trình dựng nước và giữ nước của cộng đồng người Việt hiện còn lưu giữ được, rất cần truyền dạy chân giá trị cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Du lịch, GO! - Theo Minh Văn - Lê Phương (Quảng Bình Online), internet

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Về Cần Thơ 'măm' ba khía rang me

Ba khía là loại còng biển, sinh sống nhiều nhất ở vùng bãi bùn nước lợ miệt Cà Mau, Bạc Liêu… Nhưng nếu có dịp đến Cần Thơ, bạn hãy thử đến “đường Ba Khía” để thưởng thức nhiều món ngon độc đáo từ con ba khía như hấp bia, luộc, rang me…

Hằng năm vào mùa con nước lên (khoảng tháng 8 đến 10 âm lịch), khi những hang ổ dày đặc dưới gốc cây đước, cây mắm bị chìm trong nước, ba khía phải “thiên di” lên thân và rễ cây để trú ẩn. Thời điểm này cũng là mùa ba khía hội (vào con nước 30 âm lịch). Thế là người dân chuẩn bị đồ nghề đi bắt ba khía.

Lựa những đêm tối trời khi con nước lên đầy, chỉ cần cập sát xuồng vào mé rạch vừa tầm tay với sát những gốc đước, gốc mắm, vuốt nhẹ những con ba khía còn đang “say sưa tình tự” cho vào giỏ đặt sẵn trên khoang xuồng. Trong một con nước, một người cần mẫn có thể bắt được vài chục ký ba khía dễ dàng.

Giá trị kinh tế của con ba khía ngày xưa không cao, và chỉ có một cách chế biến duy nhất là muối làm mắm ba khía. Đây có thể nói là món ăn đặc trưng của miền Tây, không thể thiếu trong bữa cơm hằng ngày. Ngày nay do nhu cầu ẩm thực gia tăng, ba khía được các chuyên gia ẩm thực “chắp cánh” làm nhiều món khá độc đáo như nấu canh chua cơm mẻ với bắp chuối, hấp bia, rang muối… nhưng độc đáo nhất phải kể là ba khía rang me.

Ba khía mua ở chợ phải chọn con cái (con đực cứng, thịt ít), yếm cứng, cầm chắc tay (thịt nhiều, mềm sau khi chế biến). Cho ba khía vào xô nhựa, đổ nước ngập vào ba khía và dùng que tre (hay đũa) đảo nhiều vòng cho ba khía sạch đất và bị say không kẹp được. Tiếp đến tách bỏ mai, lấy phần thân chặt đôi (hay để nguyên tùy ý), rửa sạch để ráo. Sau cùng bắc chảo lên bếp phi mỡ, tỏi thơm rồi đổ ba khía vào xào chín. Me chín đổ vào tô, thêm ít nước khuấy đều cho cơm me nở ra. Thêm gia vị (đường, muối, bột ngọt, nước mắm…) cho vừa khẩu vị. Cho tất cả me vào chảo cùng ba khía dưới ngọn lửa riu riu, sơ đều cho tới khi nước me rút vào sền sệt là được. Ra vườn hái vài nắm rau răm xếp sẵn ra đĩa, xúc ba khía để lên. Nhớ thêm vài nhúm đậu phộng rang đâm giập vào nữa là xong.

Bữa ăn đã sẵn sàng. Gắp càng ba khía cùng với rau răm đưa lên miệng nhai chậm rãi, chúng ta sẽ cảm nhận được vị chua, ngọt, béo, giòn của ba khía hòa lẫn vị cay cay, the the của rau răm lan tỏa khắp mọi giác quan, nếu cần thêm một cốc bia lạnh nữa là “đủ bộ”.

Có dịp đến TP Cần Thơ, du khách hãy tìm cơ hội đến đường Đinh Tiên Hoàng thuộc phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ để thưởng thức nhiều món ngon độc đáo từ con ba khía như hấp bia, luộc, rang me… Giá cả tương đối rẻ, vừa túi tiền, từ 30.000-50.000 đồng/đĩa cho bốn người ăn. Chiều đến nơi đây khá nhộn nhịp. Chính vì thế, con đường này được người dân địa phương gọi với một tên dí dỏm khác: “đường Ba Khía”!

Du lịch, GO! - Theo Thanh Tâm (TTO), internet

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Nem nắm

Có người bạn ở huyện Giao Thuỷ, Nam Định ra chơi, làm quà cho món nem nắm. Qua chuyện trò, nhân đó mà hiểu hơn về quê hương bạn và món quà quê của bạn.

Giao Thuỷ là một huyện ven biển của tỉnh Nam Định, nằm ở chỗ cuối cùng của con sông Hồng, bên cạnh cửa Ba Lạt, bên kia là huyện Tiền Hải, Thái Bình. Bãi tắm Quất Lâm không rộng lắm, nước lại hay đục ngầu phù sa nhưng nhiều người vẫn thích về đấy chơi, có lẽ vì gần Hà Nội và cũng vì hải sản có nhiều thứ vừa ngon lại vừa rẻ.

Thứ nữa, trên đường đi khách được ngắm vô số cảnh những mái nhà thờ nhọn hoắt xen lẫn những mái chùa cong cong nhô lên giữa những cánh đồng, làng mạc trù phú; hơn đâu hết người ta cảm nhận được vẻ đẹp, sức sống của một vùng quê đồng bằng Bắc Bộ.

Nem nắm là một món khoái khẩu của các cụ ta từ xa xưa. Nhà thơ Tản Đà lúc sinh thời cũng rất ưa nhắm rượu với thứ nem này. Có một đoạn hồi kí của ai đó kể về nhà thơ khi làm báo An Nam trong một lần đãi khách uống rượu với nem, ông đã triển khai một bài lí sự rất dài dòng về mối tương quan giữa nem và nước chấm. Và câu thành ngữ: “Tay nem, tay chạo” là để chỉ những người giỏi giang tháo vát, chịu thương chịu khó...

Bạn kể, bây giờ hoá ra chẳng mấy sẵn nem nắm. Thường người ta hay ăn nem chua, nem chạo hoặc nem tai. Báo chí thỉnh thoảng vẫn nói về cửa hàng nem tai của bà Hồng ở Hà Nội mỗi ngày tiêu thụ có đến 5 tạ tai lợn. Nem tai kể ra có quí hơn nem chạo, nhà có khách đột xuất, mua về vài ba lạng cũng là thêm một món, được cái sụn nhai giòn, mùi thính cũng thơm thơm, nhưng ăn mấy miếng là hết thấy hứng.

Một quán bia ở quận Thanh Xuân hay có nem Phùng. Mở gói lá chuối ra là một nắm nem mịn màng thơm phức mùi thính gạo. Mùa hè nhắm với bia, mùa đông nhắm với rượu đều có lí. Nhưng mà lại chẳng mấy người biết, chẳng mấy người thích. Chẳng như nem nắm Giao Thuỷ. Nói đến nem Giao Thuỷ thì ở Nam Định ai cũng biết và chẳng mấy ai không tỏ ra hào hứng.

Bạn kể, chỉ trong một huyện mà có đến hai “trường phái” nem khác nhau. Một ở xã Giao Tiến, một ở mấy xã sát ven biển như Giao An, Giao Lạc…

Nem Giao Tiến có đặc điểm bì lạng mỏng, thái nhỏ đều, dài, trắng muốt như những sợi cước. Mấy xã vùng dưới thì lạng nguyên lớp bì, đôi khi lẫn sang một ít của phần mỡ nữa, nhưng mà cũng phải thái thật mỏng. Nói chung làm nem là phải kén lợn. Cũng như làm giò lụa. Ngày xưa còn giống lợn ỉ thì khỏi phải nói. Bây giờ chọn những con lợn khoẻ mạnh, to vừa phải, nuôi bằng cám bã của nhà, không có thuốc tăng trọng.

Làm thịt lợn cũng theo lối cũ, dùng nước sôi để làm lông, như thế mới lấy được mọi cái chân lông. Thịt nạc xẻ ra còn nóng hôi hổi phải đem chế biến ngay. Thịt luộc vừa chín tới, thái thật mỏng, to bản nhưng dọc thớ, sau đó mới dùng sống dao dần cho mềm, nhũn. Riêng mấy xã vùng dưới thì người ta không luộc thịt mà chỉ nhúng vào nồi nước đang sôi sùng sục sao cho thịt chỉ chín tái bên ngoài mà bên trong vẫn còn đỏ rau rảu, kiểu như thịt bò tái.

Thính làm bằng gạo rang. Trước khi rang gạo phải đem xấp nước, để cho ráo. Khi rang phải thật đều lửa sao cho khi bẻ đôi hạt gạo thấy vỏ ngoài và lõi trong vàng một màu như nhau. Thịt, bì, thính trộn đều cùng nước mắm, tỏi, vừa trộn vừa bóp kỹ, sao cho mắm hoà cùng với tỏi ngấm đều vào thịt, thịt quyện lấy thính, thính bám chặt lấy bì. Người ta nắm chúng lại thành nắm đặt lên lớp lá sung đã trải sẵn. Thế là chỉ việc bẹo ra từng miếng cuộn vào trong một cái lá sung, chấm vào bát nước chấm mà đưa lên miệng.

Nước chấm làm bằng nước mắm Sa Châu, hoà thêm một ít nước cho khỏi mặn, cũng có thể cho thêm một chút đường, ớt, tỏi, hạt tiêu. Nem Giao Tiến thường nhiều thính nên có vị bùi, vị thơm hơn. Nem Giao An nhiều thịt nên dẻo, mềm và ngọt hơn. Người thích nem Giao An, người thích nem Giao Tiến. Tuỳ ý thích.

Nem nắm Giao Thuỷ gói trong lớp lá sung, bọc ngoài bằng lá chuối, lá dong hoặc giấy báo, chẳng cần cho vào tủ lạnh cũng có thể để được mấy ngày.

Bạn bảo, thành phố Nam Định có hàng của bà Ngân ở đường Trần Nhân Tông, bảy tám người luôn chân luôn tay mà khách đến hầu như lúc nào cũng phải chờ đợi. Người mua dăm ba nắm, có người mua mấy chục nắm. Người ta mua về ăn, đãi họ hàng, bạn bè và đem làm quà ở nơi xa. Vì làm bán cho dân thành phố nên thịt phải luộc kĩ hơn, không có màu đỏ như nem làm ở quê...

Chợt nhớ câu ca dao “Tay cầm bầu rượu nắm nem/ Mảng vui quên hết lời em dặn dò...”. Không biết nắm nem ở đây là nem gì, có phải là nem nắm không nhỉ?

Du lịch, GO! - Theo Trần Giang Nam (Quảng Ninh Online), internet

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

Tìm quán lạ, món mới... ăn tết Tây!

Không gian thoải mái, dịch vụ mới lạ, những bữa ăn ngon… là lựa chọn thích hợp cho không khí gia đình sum họp trong dịp tết Tây.

Thưởng thức hải sản tươi tại biển… gần

Cần Giờ là nơi duy nhất cho những người thích đi biển nhưng không xa thành phố. Dù đi theo tour, đi xe gắn máy hoặc đi “bụi” bằng xe buýt, bạn đều có thể dừng chân nơi đây để thưởng thức hải sản tươi sống ngay biển kết hợp với tay nghề chế biến riêng, không thay đổi hương vị suốt hơn 20 năm qua. Cách bờ biển 700m, nhà hàng Duyên Hải toạ lạc tại trung tâm Cần Thạnh, gần bến xe buýt Cần Giờ với những căn nhà lá nhỏ chen lẫn giữa rừng đước hoặc ven sông là chốn nghỉ ngơi, ăn uống cho những ai thích khung cảnh thiên nhiên, dân dã.

Tận hưởng hương vị biển với các món ngon khó tìm thấy ở trung tâm thành phố như lẩu cá khoai, cá khoai lăn bột, sam Cần Giờ, gỏi ốc giác, cá mao ếch nướng muối ớt, tôm tái xưa và nay, gỏi trứng sam Cần Giờ, sò tái duyên hải, tôm kẹt… Ngoài ra, nếu thực khách có yêu cầu về chế độ chế biến riêng để đảm bảo sức khoẻ cũng có thể đề nghị nhà hàng thực hiện.

Khám phá ẩm thực Địa Trung Hải

Toạ lạc tại khu dân cư Thảo Điền, (quận 2), với khuôn viên rộng 1.200m2 nhà hàng Papagayo có không gian được thiết kế như một khu resort với nhà hàng, bar, khu vui chơi trẻ em, giải trí bắn bi sắt và khu vực bán hàng lưu niệm, trang trí nội thất, thích hợp với những người thích không gian thoáng mát. Phong cách ẩm thực đặc trưng vùng Địa Trung Hải nhưng vẫn ảnh hưởng đậm nét ẩm thực của người Pháp. Nếu muốn thưởng thức món gan ngỗng béo trứ danh thì “Le péché de gourmandise” là sự lựa chọn tuyệt vời.

Các món nướng đều được nướng bằng than củi để tăng thêm hương vị, giúp thực khách thưởng thức món ăn được trọn vẹn. Và, món “Côte de boeuf” sẽ hợp gu cho những ai thích thưởng thức món sườn bò nướng. Với chất lượng bò nhập khẩu từ New Zealand, một phần Côte de boeuf khoảng 900g dành cho hai người với giá 765.000 đồng là tương đối ổn. Món “Bar de ligne” – cá chẽm, hay “Langouste” – một con tôm hùm 500g dùng với cơm đặc sản – đem lại cảm giác lạ miệng và ngon ngọt cho những người thích hải sản.

Ngoài ra, nơi đây còn có các món ngon đặc sắc khác như bò xiên que nướng xốt vùng Provence, sườn heo nướng với mật ong, ức vịt nướng với xốt chanh, cá dũa nướng với xốt kem rau thơm và mì tagliatelle, philê bê với nước xốt ngãi thơm, súp kem ốc sên với xốt vang trắng, súp cá biển Địa Trung Hải, rau trộn Nicoise với cá ngừ nướng, thịt bò sống thái lát dùng với nụ bạch hoa và phô mai Parmesan…

Kem tự chế, tự ăn kiểu Mỹ

Quán kem N2 Heaven thiết kế đơn giản, trẻ trung và… ấm áp. Những chiếc máy làm kem, sử dụng công nghệ khí siêu lạnh nhập từ Mỹ, được đặt ngay tại quầy tạo nét riêng độc đáo. Nguyên liệu làm kem, trái cây nhiệt đới… được giữ trong tủ cấp đông để khách thoải mái lựa chọn.

Sau khi tự tay chọn nguyên liệu theo sở thích, khách có thể tự cho vào máy chế biến theo phong cách riêng hoặc nhờ hướng dẫn. Sau vài phút, bằng dòng khí siêu lạnh âm 180oc, máy bắt đầu phả làn khói trắng mờ ảo và cho ra những viên kem xinh xắn, ngọt ngào. Dòng khí siêu lạnh, giúp cho việc làm kem bình thường từ vài tiếng nay chỉ còn vài phút, giúp các loại trái cây vẫn giữ được nguyên vẹn hương vị tươi ngon. Nếu thích cảm giác hội hè, khách có thể chọn những set kem làm sẵn được trang trí đẹp mắt, ngon miệng.

“Thiên đường” kem nơi đây có hơn 30 loại, là sự kết hợp giữa độ béo ngậy vừa đủ kiểu Mỹ cùng vị ngọt tự nhiên của trái cây miền nhiệt đới. Điểm mới lạ, khiến thực khách thú vị chính là được tự tay làm và thưởng thức những viên kem mát lạnh đến tê lưỡi. Vị chua nhẹ, tím lịm của món kem dâu rừng; mùi thơm ngọt ngào, mát dịu của kem ổi xá lị; kem trà xanh thơm béo, thanh mát. Và, vô số các loại trái cây ưa thích như nhãn, táo, sầu riêng… đều có thể cho vô máy để thành kem. Ngoài ra, tiệm kem còn có các món ăn no như phở gà, bún bò Huế, cơm gà, các loại nước trái cây ép, giá từ 33.000 – 80.000 đồng/món. Nếu gọi món từ 79.000 đồng sẽ được tặng một viên kem.

Địa chỉ tham khảo:

- Nhà hàng Duyên Hải, 551/2 khu phố Miễu Ba, Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, TP.HCM. ĐT: 38740366.
- Nhà hàng Papagayo, số 18 Trần Ngọc Diện, Thảo Điền, Q.2, TP.HCM. ĐT: 62521333. Mở cửa mỗi ngày từ 11 – 15g và 18 – 23g (nghỉ thứ hai hàng tuần và ngày 1.1.2013).
- Tiệm kem N2 Heaven, số 30 Bà Huyện Thanh Quan, P.6, Q.3, TP.HCM. ĐT: 3930.5577. Phục vụ từ 7 – 23g.

ĐGD: Dĩ nhiên những nơi có món ăn này dành cho các bạn 'dằn túi' kha khá một chút. Riêng mình vẫn ủng hộ 'món bình dân' ở chợ thay vì nhà hàng, tuy giá mềm nhưng có thể không hề kém cảnh đâu mặc dù 'giàn giá' bề ngoài không bằng (tô bát, bàn ghế...v.v).

Du lịch, GO! - Theo Minh Cúc, Hồng Thái (SGTT)

Ẩm Thực Huế

m thực Huế rất đặc sắc và tinh tế. Nếu đến vùng đất này, bạn không tìm hiểu và thưởng thức những món rất Huế thì là một thiếu sót lớn. Nhưng ngoài bún bò, cơm hến, bánh bèo, bánh nậm… đã rất nhiều người biết đến, thì bạn nên tìm hiểu và thưởng thức gì khác?

1. Nem lụi Huế

Nếu bạn từng một lần đến Huế, từng say mê với các món dân dã  như bánh bèo, bánh bột lọc thì nhất định bạn không thể bỏ qua món nem lụi – một trong những đặc sản lâu đời của xứ Thần Kinh.

Thông thường, người ta ăn kèm nem lụi với bánh tráng, rau thơm, khế chua, chuối xanh, sung… tùy theo khẩu vị mỗi người. Bày nem lụi ra đĩa, bạn sẽ thấy một món ăn đủ màu sắc: màu vàng ươm của miếng thịt đã được nướng, màu xanh của rau, màu nâu của nước chấm, và thêm chút đỏ tươi của vài miếng ớt thái nhuyễn.

2. Sò huyết Lăng Cô

Sò huyết Lăng Cô (Thừa Thiên-Huế) được giới sành ăn đánh giá “không thua gì” sò huyết đầm Ô Loan (Phú Yên). Tại vùng biển này, sò huyết được chế biến nhiều món làm nức lòng du khách. Trong đó, gỏi sò huyết là món ăn hàng đầu.

Sò huyết Lăng Cô rất to, thịt rất ngọt. Dịch vụ du lịch phát triển cùng với sự xuất hiện của các đầu bếp chuyên nghiệp đã “biến” các món chế biến từ sò huyết truyền thống thành hàng loạt các món ăn, bổ sung vào danh mục đặc sản phục vụ du khách. Món gỏi sò huyết khá phổ biến trong thực đơn các nhà hàng. Gỏi nhâm nhi với bia rượu hoặc thưởng thức để bồi bổ cơ thể đều rất tuyệt vời.
Người Huế rất ưa sử dụng gừng, xả trong thức ăn nên món gỏi sò huyết cũng được bổ sung hai thứ gia vị này.

3. Chè lục tàu xá

Lục tàu xá hay còn gọi là lục đậu sa có nghĩa là đậu xanh đã nát nhuyễn. Đây là một trong những món ăn của người Hoa Kiều. Vài trăm năm trước đây, khi đến vùng đất kinh kỳ lập nghiệp, họ đã đem theo công thức nấu chè từ quê cha đất tổ mang đến và tạo nên cho Huế sự phong phú, một nét rất riêng tại Việt Nam.

Ngày nay, chè lục tàu xá không chỉ hiện diện trong các gia đình người Hoa mà đã có mặt khắp nơi. Nếu có dịp đến thăm các ngôi chùa của xứ Huế vào ngày rằm, bạn sẽ được các ni sư mời ăn món chè lạ miệng này.

4. Cơm muối Huế

Đó không phải là cách nói tế nhị, nhún nhường truyền thống của người Việt, mỗi khi gia chủ bày tiệc khoản đãi khách quý. Món ăn rõ ràng chỉ có cơm và muối, song cơm phải được nấu cầu kỳ từ gạo thơm, còn muối thì được chế biến bằng đủ cách: rang, kho, om, chiên, trộn... là bữa tiệc cơm muối do các nghệ nhân tài hoa ở Huế thực hiện.

Cơm là cơm gạo tẻ, loại gạo thơm như gạo Nàng thơm, Nàng Hương bây giờ. Gạo giã làm sao còn nguyên vỏ lụa, không sứt, vỡ (gạo lứt). Cơm nấu trong niêu đất nhỏ, bảo đảm hạt gạo chín nhưng không nứt nở, cơm rất khô mà không sống!

Tùy theo công thức pha và cách chế biến mà có các món muối khác nhau, món nào ra món đó, có mầu sắc, mùi vị riêng không hề trùng lẫn. Nhìn mâm cơm với các món muối khi mới dọn ra ta có cảm giác đó là một mâm hoa: Muối trắng, muối ớt đỏ, muối riềng vàng, muối khế, muối sả xanh, muối tiêu, muối mè (vừng) mầu huyền, muối bạc, muối ruốc, muối sườn mầu nâu bóng... thật thích mắt.

Ăn tiệc cơm muối bao giờ cũng bị đặc điểm món ăn, chén bát, mâm bàn... buộc phải giữ phong thái lịch sự, thư thái, nho nhã và vô cùng đài các.

6. Bánh khoái

Đến với Huế mà chưa thưởng thức "bánh khoái" bị coi như còn thiếu sót. Bánh khoái đổ bằng bột gạo, trộn với bột nghệ, trứng gà, nước và các gia vị mắm muối đánh cho thật mịn, thật sánh. Nguyên liệu phụ của bánh khoái là giá đỗ, giò sống và tôm. Bánh khoái ăn với rau sống gồm vả, chuối chát, khế thái lát và nước lèo.

7. Bún giấm nuốc

Nguyên liệu gồm nuốc chân màu xanh nước biển, tôm rằn, cua gạch, cá thệ nấu canh với thơm, bắp chuối sứ, rau thơm, bánh tráng gạo, đậu phộng rang vàng tách đôi, ruốc loại ngon hòa một ít nước nóng, vả, chuối chát thái mỏng, xà lách.

Khi ăn, bạn nhớ bóp bánh tráng, cùng vài lát chuối chát, vả và một ít đậu phộng trên mặt, kèm theo đó là chén nước mắm, vài trái ớt xanh, chén ruốc để chiều người thích mặn mà hơn.

Một số địa chỉ để bạn tham khảo:

-  Quán Hàng Me ở 12 Võ thị Sáu: các loại bánh như bánh bột lọc, bánh bèo, bánh nậm, bánh ít, chả tôm, nem chua...
- 2. Biệt phủ Thảo Nhi - Thôn Cư Chánh 1, Xã Thuy Bang, Huyện Hương Thủy - Thừa Thiên Huế: có bánh tráng phơi sương, vả trộn, rau càng cua trộn, cơm niêu cá kho tộ... khá ngon.
-  Chè Hẻm ở 26 đường Hùng Vương: Ở đây bạn được thưởng thức rất nhiều loại chè đặc biệt của Huế.
- Quán Lạc Thiện nằm ngoài cửa Thượng T: rất nổi tiếng về bánh Khoái.
- Cồn Hến, đường Hàn Mạc Tử có cơm hến rất ngon và nổi tiếng.

Một số điều cần chú ý khi đi Huế:

- Khách sạn ở Huế rất nhiều, chất lượng rất khác nhau. Bạn nên tham khảo và đặt trước.
- Tp. Huế khá nhỏ, nên các phố san sát nhau, đi lại dễ dàng. Nhưng chú ý đi xích lô ở Huế có giá cao hơn taxi. Bạn nên tìm hiểu dịch vụ cho thuê xe máy hoặc tìm một người xe ôm để đưa đến các điển bạn cần trong suốt chuyến đi.
- Đi bộ dạo phố vào buổi chiều tối tại Huế bên bờ sông Hương, ngắm cầu Trường Tiền là một trải nghiệm thú vị. Tuy nhiên bạn nên tìm cách trả lời cánh xích lô và xe ôm vì biết là khách du lịch thì họ hay “làm phiền” khi bạn đi dạo bộ

- Đi nghe Ca Huế trên sông Hương vào đêm bằng thuyền là một trải nghiệm thú vi. Bạn sẽ được chiêm ngưỡng Cầu Trường tiền “đổi màu” trong đêm. Tuy nhiên bạn cần chú ý đến việc trên bàn có hoa để để tặng ca sỹ, nếu các bạn dùng chúng, nhà Thuyền sẽ tính tiền.
- Nên ăn hết các đồ ăn đặc sản tại Huế vì chúng rất đặc trưng, ngon, khác hoàn toàn với các vùng miền khác, có cùng món ăn Huế.
- Lăng tẩm ở Huế thường rất rộng, phải đi bộ nhiều. Vào lúc thời tiết rất nóng bạn sẽ rất mệt. Chính vì thế bạn nên tìm hiểu kỹ để sắp xếp lịch trình.

Du lịch, GO! - Theo Hoài An (Proguide.vn)

Ăn món Huế với người Huế
Đến Huế ăn hàng

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Nộm hoa chuối rừng

Chuối rừng tập trung chủ yếu ở vùng núi Tây Bắc, Tây nguyên và miền Trung Việt Nam. Từ vỏ, cuống hoa và củ chuối đều có tác dụng chữa bệnh.

Hoa chuối rừng mọc thẳng đứng ở ngọn (khác với chuối trồng có hoa mọc thõng xuống). Hoa chuối đồng bằng thường có màu tím, hoa chuối rừng thường có màu đỏ tươi, cầm rất chắc tay và khá nặng, là nguồn cung cấp chất xơ tuyệt hảo, tốt cho hệ tiêu hóa.

Nói đến hoa chuối rừng, người ta đã cảm nhận ngay cái thân quen, gần gũi mà mộc mạc, thứ quà của làng quê núi rừng Tây Bắc. Cũng bởi thiên nhiên không hào phóng để ai cũng được thưởng thức nên món nộm hoa chuối rừng đã trở thành "cao lương mỹ vị" giữa chốn phồn hoa đô thị.

Hoa chuối làm nộm vốn chỉ là thức ăn thay thế hoặc ăn ghém khi nhỡ bữa, nhưng giờ đã trở thành món đặc sản trong nhiều nhà hàng, quán xá không chỉ ở miền quê mà còn cả nơi đô thị.

Nhớ khi còn nhỏ sống tại quê nhà, mỗi lần lên rừng lấy củi bố tôi lại tìm bẻ vài bắp hoa chuối rừng để cải thiện bữa ăn cho cả nhà. Bố bảo đi giữa rừng khát nước có thể chặt ngang một cây chuối và hứng nước, nó có thể cho vài lít nước trong một giờ - một thứ nước thiên nhiên tinh khiết. Còn những bắp hoa chuối rừng, qua đôi bàn tay khéo léo của mẹ đã trở thành món ăn hấp dẫn cho mọi người.

Hoa chuối mang về được mẹ tôi chế biến thành nhiều món: nộm hoa chuối, hoa chuối luộc chấm tương, hoa chuối xào... nhưng không hiểu sao tôi nhớ nhất là món nộm.

Cách làm nộm hoa chuối cũng khá đơn giản nhưng cần sự tỉ mỉ, chu đáo. Hoa chuối chọn lấy bẹ non, thái chỉ nhỏ như sợi miến. Để hoa chuối không bị thâm, sau khi thái ngâm luôn vào chậu nước có pha chút giấm. Những sợi hoa chuối ánh sắc tím ngâm mình trong nước cong tròn.

Để món nộm hoa chuối được ngon hơn, người ta thường nộm hoa chuối với thịt tai lợn. Tai lợn sau khi làm sạch,  luộc chín, thái miếng nhỏ cỡ ngón tay để nộm cùng hoa chuối. Bước cuối cùng là trộn các loại gia vị.

Cũng như các món nộm khác, nộm hoa chuối cần có thêm vừng lạc. Món nộm ngon phải có vị chua của chanh, chút ngọt của đường, hơi cay của ớt và tất nhiên không thể thiếu kinh giới, húng, mùi tàu. Các loại rau thơm sẽ làm cho món nộm có thêm màu xanh bắt mắt cạnh màu tím của hoa chuối, màu trắng của thịt, loáng thoáng màu đỏ tươi của ớt.

Hương vị đặc trưng của nộm hoa chuối là cái giòn sần sật của hoa chuối với hương nồng của các loại rau thơm, chất cay cay của ớt và vị bùi của lạc rang... Tất cả gắn quyện như một bản nhạc đa âm sắc, thưởng thức một lần lại thòm thèm muốn ăn nữa.

Ở các nhà hàng bây giờ nộm hoa chuối có thể được cộng thêm nhiều thứ nguyên liệu khác chứ không còn dân dã như xưa, nhưng hương vị đặc trưng của núi rừng thì không thể nào phai nhạt. Đưa một gắp nộm hoa chuối vào miệng, nghe hương vị thanh đạm, dung dị, mộc mạc ấy tan dần mà thầm cảm ơn núi rừng đã ban tặng cho con người một loại cây có nhiều ý nghĩa đến vậy.

Du lịch, GO! - Theo P.T.T (TTO)

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Lươn nướng lá chanh: thơm ngào ngạt ngày gió

Trong những buổi chiều trời trở gió thì thịt lươn nướng là món ăn thích hợp nhất. Những miếng thịt lươn tỏa hương thơm ngào ngạt trên bếp than hồng đem đến sự ấm áp và ngon miệng cho người ăn.

< Lươn nướng lá chanh là món ăn thơm ngon rất hấp dẫn.

Lươn là một con vật quen thuộc trong đời sống của người nông dân nơi làng quê. Vào những ngày nông nhàn, người dân thường đi bắt lươn dọc theo những con lạch, đầm lầy. Theo kinh nghiệm dân gian thì nơi nào có nhiều bùn nơi đó sẽ có lươn sinh sống.


< Những miếng thịt lươn được nướng chín vàng nhìn thật hấp dẫn.

Thịt lươn có tính mát lành, tác dụng bồi bổ khí huyết, tăng cường dương khí, giúp máu huyết lưu thông, giảm trừ phong thấp… Thịt lươn được chế biến thành nhiều món ăn như miến, cháo, nấu lẩu, lươn bằm xúc bánh đa, lươn nướng... Trong những buổi chiều trời trở gió thì thịt lươn nướng là món ăn thích hợp nhất. Những miếng thịt lươn tỏa hương thơm ngào ngạt trên bếp than hồng đem đến sự ấm áp và ngon miệng cho người ăn.

Chế biến lươn nướng đơn giản và không mất nhiều thời gian. Cái khó nhất là làm sạch chất nhầy trên thân lươn. Bạn có thể cho lươn vào nồi, chà xát với muối, sau đó dùng các loại lá như lá mướp, lá bí ngô hoặc rơm khô để tuốt sạch nhớt từng con. Ngoài ra bạn cũng có thể sử dụng tro bếp, giấm hoặc chanh để làm sạch lươn.


< Món ăn sẽ thêm đậm đà với thức chấm cay nồng.

Để lươn không có vị tanh, người ta không bao giờ sử dụng dao mà thay bằng một thanh cật tre mỏng vót nhọn. Chọc thanh tre vào rốn lươn, róc ngược từ đuôi lên đầu, móc bỏ ruột. Không được rửa lại bằng nước vì như thế thịt sẽ tanh, chỉ cần dùng giấy sạch hoặc khăn mềm thấm khô lươn là được.

Lóc lấy xương sống lươn, thái thành từng miếng vừa ăn, ướp với các loại gia vị như muối, tiêu, đường, bột ngũ vị hương... Để thịt lươn khoảng 10 phút cho thấm gia vị, sau đó cho lên vỉ, rắc lá chanh thái nhỏ lên trên và nướng trên bếp than hồng.

Trong quá trình nướng, thỉnh thoảng thoa ít dầu lên thịt lươn, lật đều vỉ nướng để chín đều. Khi lớp da bên ngoài chín vàng, cùng hương thơm nức bốc lên thì thịt lươn đã chín, gắp ra đĩa cùng với ít ngò om. Món ăn sẽ đậm đà và tròn vị hơn khi ăn kèm với chén muối ớt cay nồng.

Du lịch, GO! - Theo VnExpress