Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

Theo dấu đoàn quân Tây Tiến 2

Tháng sáu, khi nhà nhà lũ lượt kéo nhau về với biển hòng xua đi cái nóng bức, bí bách của mùa hè oi ả... không hiểu sao trong tôi lại là nỗi nhớ rừng da diết. “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi...” (Tây Tiến - Quang Dũng) Ấy là bởi nhớ cái mùa hè nóng sục sôi năm nào, mấy chị em ngược dòng ngược núi về với Mường Lát, theo bước chân của những đoàn quân Tây Tiến...

Mường Lát là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc Thanh Hóa. Vào Mường Lát có thể đi theo hai hướng, hướng thứ nhất đi theo đường mòn Hồ Chí Minh, rồi chạy theo hướng Cẩm Thủy - Cành Nàng - Hồi Xuân - Mường Lát. Hướng thứ hai là theo quốc lộ 6, rồi từ Mai Châu, qua bản Lác, tới Co Lương, rồi Trung Sơn - Trung Lý - Mường Lát.

Dân “phượt” thích đi theo hướng từ Mai Châu, bản Lác vào Mường Lát, rồi về hướng Cành Nàng - Cẩm Thủy - đường Hồ Chí Minh để tạo thành một vòng tròn. Hơn nữa khi đi theo “cung” này, các tay “phượt” sẽ được khám phá rất nhiều điều kỳ thú trên đường đi, còn khi về, sẽ thảnh thơi hóng gió trên đường Hồ Chí Minh lịch sử...

Khi chúng tôi đi, đường vào Mường Lát đang được thi công, tạo thành những đoạn đường khúc khuỷu, đá lở, núi sạt hiểm trở, gây không ít khó khăn cho các tay lái dù lão luyện nhất. Đi đường, lại nhớ tới câu thơ của Quang Dũng trong bài Tây Tiến:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi...

Đường vào với Mường Lát vẫn luôn là một thử thách đối với lòng quả cảm của con người...

Khó khăn như vậy, nhưng vẫn còn may chán, vì hôm vào Mường Lát, chúng tôi gặp bữa trời nắng gắt. Đi lại mệt nhọc, vất vả nhưng vẫn còn dễ dàng, chứ nếu phải những ngày mưa, gặp đoạn đường đất đá sụt lở thế này thì chắc chỉ còn cách... vác xe qua.

Nhưng điều kỳ thú mà Mường Lát mang tới, hấp dẫn “dân offroad” không ngừng về với Mường Lát, không phải là những khó khăn mang tính “nhân tạo” như thế. Đó là những con đường, như chúng tôi vẫn trêu nhau - đường “chó chạy” - rộng chỉ 50 - 60cm chạy cheo leo bên sườn núi, với một bên vách đá dựng đứng, một bên sườn dốc của dòng sông Mã dữ dội, mà chỉ cần một sơ sẩy, một sai lầm dù nhỏ nhất, cả người và xe có thể lao xuống vực bất cứ lúc nào...

Đôi khi những con đường ấy mở rộng hơn một chút và trở nên nên thơ đến lạ lùng với hàng rào tre nứa che chắn những nương sắn, nương ngô, với bầu trời xanh thẳm ở trên cao và rừng tre xanh một màu xanh khỏe khoắn, tràn đầy sức sống trải ra đến bạt ngàn trước mắt...

Chạy dọc con đường cheo leo ấy, các tay “phượt” không những được hưởng cái cảm giác hồi hộp, nghẹt thở đến thót tim, mà còn được chạy dọc dòng sông Mã anh hùng, để lúc nào cũng cuồn cuộn bên tai âm thanh gầm réo ầm ào hùng tráng của “Sông Mã gầm lên khúc độc hành...”.

Vì đường vào Mường Lát đang thi công nên có đoạn chúng tôi phải vượt qua dòng Mã bằng bè tre thô sơ. Với mấy chị em từ chốn thị thành, với cuộc sống hằng ngày vốn ủ ê bên bàn làm việc chất đống giấy tờ, trong những văn phòng ro ro điều hòa, máy lạnh... thì cảm giác vượt sông này "phiêu" không lời nào tả hết!

Đến giờ, chẳng biết đoạn sông này đã có cầu bắc qua cho người dân ở đó đỡ vất vả hay chưa, nhưng chúng tôi vẫn không thể quên được cảm giác phiêu diêu căng ngang dòng Mã anh hùng đó...

Đường vào Mường Lát không thể không nhắc tới những chiếc cầu. Suốt dọc đường từ Mai Châu sang Mường Lát, qua Co Lương, Trung Sơn, Trung Lý... đi đâu cũng gặp những cây cầu treo, cầu tre, cầu gỗ thô sơ đủ kiểu bắc qua những đoạn sông, suối, những khe cạn gập ghềnh đầy đá...

Những cây cầu bắc qua sông, ở một vùng miền nào khác, hẳn sẽ được làm bằng bêtông cốt thép, bền bỉ nhưng khô khan, nhạt nhẽo. Còn ở đây, những cây cầu thô sơ nhưng nên thơ lại mang cho những người khách bộ hành phương xa những điều hứng thú không thể tả xiết.

Vào gần đến thị xã Mường Lát, bạn sẽ một lần nữa bị bất ngờ và ấn tượng với cây cầu treo to lớn sừng sững bắc ngang dòng sông Mã, đoạn chảy qua thị xã Mường Lát.

Buổi sáng mùa hè, dậy sớm, đi bộ một đoạn ngắn từ thị xã Mường Lát ra cầu, ngắm mây bay gió thổi, ngắm núi đồi lồng lộng, ngắm dòng Mã mênh mang, rồi hít đầy lồng ngực bầu không khí trong lành của bao la trời đất, để rồi cảm ơn đời cho ta một buổi sớm mai quá đỗi yên bình, “cho ta một ngày nữa để yêu thương”...

Nhưng sẽ thật thiếu sót nếu nói tới ấn tượng Mường Lát mà không kể tới “ấn tượng tre” nơi đây. Không ở đâu lại nhiều tre như ở Mường Lát, ở Thanh Hóa. Xuyên suốt dọc đường đi là một màu xanh mút mắt của tre. Tre ở dưới thung. Tre ở bên sườn đốc. Trẻ trên vách đá. Tre dưới vực sâu. Tre dưới mặt đất. Và tre xanh mướt trên đầu.

Khi thì ta đi xuyên qua rừng tre. Khi ta đi trên rừng tre. Khi thì rừng tre xanh xanh bạt ngàn trước mặt, và khi thì tre đuổi theo ta ở phía sau lưng. Vừa đi vừa ngắm trời ngắm đất, vừa tắm dưới bóng tre mát rượi, giống như những đoàn quân Tây Tiến, chị em tôi cũng vào Mường Lát một lần để rồi nhớ mãi khôn nguôi

Năm qua đi, tháng qua đi, những chuyến đi cứ dày thêm mãi. Những địa danh đã đi qua cũng nhiều hơn. Nhưng nỗi nhớ về Mường Lát, về núi rừng tây Thanh Hóa mỗi khi mùa hè đến lại dấy lên trong lòng. Một nỗi nhớ “chơi vơi”.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi…

Nhưng không giống như những đoàn quân Tây Tiến một đi không trở lại, chúng tôi sẽ sớm trở lại Mường Lát một ngày không xa để chứng kiến những đổi thay trên mảnh đất gian khó này.
Yêu thương lắm từng mảnh đất quê hương mình!

- Theo dấu đoàn quân Tây Tiến 1
- Theo dấu đoàn quân Tây Tiến 2

Du lịch, GO! - Theo IRIS Blog's, internet

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Theo dấu đoàn quân Tây Tiến 1

Từ Hà Nội đi Mường Lát có 2 đường chính, một theo đường Hồ Chí Minh, đến Cẩm Thủy rẽ phải qua Hồi Xuân, hoặc theo hướng Mai Châu, Trung Sơn, qua Mường Lý rẽ trái, đi khoảng 15-18km thì đến Mường Lát. Điểm đến của đoàn tối nay là Mai Châu, cách Hà Nội 120km. Dọc đường, chúng tôi dừng lại nạp năng lượng tại một quán cơm quen thuộc trước khi vượt 2 con đèo lớn là Dốc Cun và Cao Phong.

Vượt đèo trong đêm

Cô Hồng chủ quán cơm cảnh báo chúng tôi thời tiết hôm nay lên đèo dễ có sương mù. Y như rằng, vừa lên đèo được vài cây số thì sương phủ xuống, càng lúc càng dày đặc.

Việc vượt đèo trong đêm với dân phượt chuyên nghiệp thì không phải vấn đề to tát, nhưng trong đoàn hôm nay có 2 tay mơ mới đi phượt lần đầu. Đã có những trường hợp nhiều người đi phượt chuyến đầu tiên về rồi bỏ cuộc luôn. Nhưng sự lo lắng cho 2 “lính mới” chỉ là hão khi kết thúc chặng 1 tại Bản Lác - Mai Châu. Cả Tuấn và Huy - 2 tay phượt mới đều xuýt xoa: “Ôi! đổ đèo sướng quá, biết thế bọn em đi phượt từ sớm hơn”.

Bản Lác từ lâu đã là điểm dừng chân nổi tiếng trong giới phượt với dịch vụ nghỉ homestay. Khách đến thường nghỉ trong những nhà sàn dát bằng tre rộng, cao ráo và sạch sẽ, với kiến trúc cổ của người Thái. Người dân nơi đây trước kia sống bằng nghề trồng lúa và dệt thổ cẩm, nhưng bây giờ nguồn thu chính là dịch vụ du lịch.

Vật lộn trong bùn lầy

Sau một đêm nghỉ ngơi cho lại sức, hôm sau chúng tôi lên đường chạy vào Co Lương. Từ Mai Châu vào Mường Lát có 2 đường, một là chạy theo Tỉnh lộ 520 rộng rãi và đẹp. Còn lại từ Co Lương vào Trung Sơn, qua Mường Lý là đường tre nổi tiếng, đang được thi công mở rộng nên rất khó đi, ôtô không thể vào được.

Chúng tôi chọn cung đường này vì muốn được thấy những hàng tre xanh mướt trước khi chúng biến mất khi con đường được mở rộng.

Ngay đoạn đầu từ Co Lương rẽ vào Trung Sơn, các tay lái trong đoàn đã được thử sức với đoạn bùn lầy do xe tải chở vật liệu để lại. Càng đi sâu vào trong đường càng gập ghềnh, khúc khuỷu. Dây thần kinh của các xế căng ra như dây đàn vì chỉ sểnh một chút là “đo đường” ngay.

Chạy đoạn này tuy không có đèo cao, vực sâu nguy hiểm nhưng vùi mình trong vũng bùn thì cũng không có gì hay. Tuy đã cố hết sức giữ cho sạch nhưng lúc dừng lại nghỉ chân mới thấy ai cũng bê bết bùn.

Tiếp đó, là một con suối rộng và sâu. Hỏi người dân mới biết đây là một nhánh lớn của sông Mã, muốn qua thì chỉ có cách đi bè. Người lái bè mảng từ bên bờ sông chèo qua ra giá 50.000 đồng/xe qua suối, nhưng đoàn chúng tôi có nhiều chị em là tay mặc cả sừng sỏ nên chốt được cái giá chỉ bằng 1/3.

Thị trấn Mường Lát bình dị và tĩnh lặng, nhưng con người ở đây thì nhiệt tình đến tuyệt vời. Nghe nói có đoàn lên, anh Tuấn - Phó bí thư Huyện đoàn Mường Lát dù  bị ốm vẫn ra UBND huyện để chờ. Cô chủ quán cơm thì đôn đáo dẫn chúng tôi ra chợ mua thức ăn dự trữ để đi tiếp.

Quãng đường từ Mường Lát lên Sài Khao chỉ tầm 30km trong đó, có một nửa đường đã trải nhựa, tưởng chừng chỉ loáng cái là đến nơi. Nhưng, sự thử thách khủng khiếp mới thực sự bắt đầu khi cơn mưa rào đổ ập xuống. Đường trải nhựa kết thúc, thay vào đó là con dốc đất sét trơn như mỡ.

Đoàn phân vân nên đi tiếp hay dừng lại, nhưng rồi chủ nghĩa phiêu lưu đã thắng thế. Khó thì mới hấp dẫn chứ dễ thì ở nhà đi nghỉ dưỡng cho được việc. Cả đoàn hò nhau đẩy từng xe. Dốc cao, đường trơn, đứng còn không vững chứ nói gì đến đẩy xe. Ấy thế mà cũng xong. Anh em hát vang bài ca “Hò kéo pháo”, ai cũng mệt thở phì phò.

Mặt trời đã xuống núi, giờ thì chả còn nhìn thấy dốc cao, vực sâu nữa. Cả đoàn cứ đi, không đi được thì đẩy. Lóp ngóp đến 23h, vẫn chưa thấy Sài Khao đâu. Mọi người cũng đuối sức cả rồi, cảm giác chỉ cần dựa lưng vào một cái gì đó là ngủ ngon lành được. Đã tưởng phải “màn trời chiếu đất” trong rừng, may quá có một căn nhà tranh ven đường, mọi người gõ cửa xin ngủ nhờ.

“Sài Khao sương lấp ...”

Sau hành trình băng rừng, leo  núi, rốt cuộc thì Sài Khao cũng dần hiện ra với những căn nhà tranh vách gỗ. Sài Khao có khoảng 90 hộ với hơn 500 nhân khẩu người Mông gốc Sơn La.

Từng cụm người dân sống rải rác trên những đỉnh núi Pha Luông cao vời vợi. Bản được xem như là tâm điểm đói của  huyện Mường Lát với “5 không”: Không điện, không nước sạch, không chợ, không đường nhựa và không thông tin liên lạc.

Điểm trường Sài Khao nằm ở trung tâm bản, chỉ là vài căn nhà xiêu vẹo ghép bằng ván gỗ, mùa đông gió lùa hun hút, còn khi trời mưa xuống thì dột lỗ chỗ. Cả trường chỉ có 3 thầy giáo phụ trách dạy 68 học sinh. Thiếu giáo viên, không có lớp học nên các em phải học ghép 2 lớp vào một phòng học, bên cạnh trường Tiểu học là trường Mầm non Sài Khao với 99 cháu và 1 giáo viên.

Dù nhà nghèo, đường đến trường đầy vất vả, gian nan thế nhưng trẻ em ở Sài Khao vẫn cố gắng đến trường mỗi buổi. Cách đây không lâu cũng có một đoàn - từ thiện lên đây tổ chức một đêm Tết Thiếu nhi đầy ý nghĩa với các cháu bé trên bản. Chúng tôi cũng theo bước họ lên đây tặng một ít quần áo, sách vở để các em có thêm niềm vui đến trường.

- Theo dấu đoàn quân Tây Tiến 1
- Theo dấu đoàn quân Tây Tiến 2

Du lịch, GO! - Theo Trường Sơn (Banduong), internet

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Hành trình lên cực Bắc trong đời sinh viên...

Tôi lên Hà Giang ôm theo một giấc mơ tam giác mạch, ấn tượng về ruộng bậc thang qua những bức ảnh, cuộc trường chinh của con người mở đường vào cao nguyên đá, những phiên chợ vùng cao đầy màu sắc mới lạ

Hà Giang – Mỏm cực Bắc

Đó là những con đường quanh co bao phủ sương mù với bên này là núi, bên kia là vực thẳm. Ngồi trên xe cảm giác sợ hãi đến thót tim khi xe chỉ có thể tiến chứ không có chỗ quay đầu. Không chỉ có thế, chốc chốc gặp những khúc cua khiến xe như muốn quay ngang ra khiến mọi người lại được phen hoảng hốt.

Nhưng Hà Giang với tôi còn có cả những ngày nắng đẹp, ánh nắng vàng lấp lánh như ruộm cả một vùng thung lũng bao la.

Những nấc ruộng ruộng bậc thang được ánh nắng chiếu vào nổi lên như tấm bản đồ Tổ quốc khiến đứa nào cũng phải trầm trồ “Chưa bao giờ thấy cảnh tượng nào đẹp hơn”! Tầng tầng lớp lớp ruộng bậc thang như từng đường gân của đất Mẹ nổi lên khiến người xem xúc động và trái tim như bật khóc trước vẻ đẹp của đất trời kia.

Hà Giang còn cho tôi thích thú với cảm giác được đi bộ trên miền núi cao. Quãng đường 1,5 cây số lên cột cờ Lũng Cú, khiến nhiều người trong đoàn thấy mệt mỏi nhưng vẫn thích thú đi tiếp.

< Cảnh sắc hữu tình như chốn bồng lai tiên cảnh.

Vượt qua hàng lan can inox chắn là một cây thông cao lớn mọc nhô lên và cả đoàn được ngắm những nấc ruộng bậc thang đợt xanh đợt vàng, trải dài trong khoảng thung lung. Ruộng cứ nối tiếp nhau ở lưng chừng núi, trượt xuống sâu và vắt từ sườn này qua sườn khác. Chính giữa là những hồ nước lấp loáng phản chiếu ánh mặt trời bỏng rát, cao lên phía trên thì vẫn là núi cao tiếp giáp với mây trời.


< Cột cờ Lũng Cú.

Vẫn thật xúc động khi nhớ lại cảm giác lúc lên đến phần cao nhất của cột cờ Lũng Cú, chân lá cờ rộng 54m2, để nhìn xuống giang sơn gấm vóc này, Tổ quốc của chúng ta đẹp như một bức tranh diễm lệ mà không bút pháp nào có thể miêu tả hết được vẻ đẹp hùng vĩ đó.

Cột cờ Lũng Cú - mỏm Lũng Cú tột Bắc là “nơi bắt đầu nét vẽ của bản đồ Tổ quốc”.  Là điểm cực Bắc của đất nước và cũng là niềm khao khát muốn được chinh phục của bao dân phượt - “một lũ nặng phong vân”. Và chúng tôi đã đến, đã hát vang “Tôi yêu Việt Nam” dưới chân cột cờ đó, đã chào cờ và cất lên tiếng hát “Quốc ca” từ trái tim mình, để lại thấy biết yêu hơn bao giờ hết đất Mẹ thân yêu!

< Dinh nhà Vương với kiến trúc lạ mắt.

Cũng không thể nào quên Dinh nhà Vương, quy mô tuy không lớn nhưng được giữ gìn và bảo tồn khá nguyên vẹn. Đoàn chúng tôi thực sự bị gây ấn tượng mạnh bởi cánh cửa gỗ kiểu cổ lại tồn tại bên cạnh cầu thang đá có lan can sắt tây, mái ngói âm dương lại song song với tường bê tông trong cùng một quần thể kiến trúc, thật độc đáo và khác lạ!

Vào những ngày cuối cùng của chuyến đi, đoàn tôi được đến thăm hồ Na Hang. Vừa được đi thuyền vừa ăn trưa trên thuyền với xung quanh cảnh vật nên thơ, phong thủy hữu tình.

< Hồ Na Hang.

Có đoạn thuyền tiến gần tới thác, đúng lúc ấy mọi người đổ dồn về mũi thuyền, ai cũng hướng về phía trước thì sương sà xuống trắng xóa mặt núi, núi ẩn mình xanh ngắt rừng cây. Mây là làn tóc của bà Trời phủ trên đầu ông Núi, cây là áo xanh của bà Rừng đan trên mình ông Núi. Một khoảnh khắc mà thiên nhiên hiện ra hùng vĩ và tuyệt đẹp! Tất cả quanh tôi đều đẹp đến ngỡ ngàng như lạc vào cõi tiên!

Con người ở Hà Giang – đó là những người dân bình thường mà tôi đã được gặp ở phiên chợ Yên Minh đầy sản vật lạ. Họ thân thiên, dễ gần, chất phác và mến khách, họ nồng nhiệt khi tôi chụp ảnh họ và muốn được chụp cùng tôi.

< Những con người hiền lành, chất phác của vùng "Cao nguyên đá".

Đặc biệt hơn, tại ngôi nhà là bối cảnh trong phim “Chuyện của Pao”, làng văn hóa Lũng Cẩm, tôi đã gặp một cậu bé người Mông với sắc thái biểu cảm rất độc đáo. Không chỉ đôi mắt mà dáng ngồi, tất cả đều rất tự nhiên mà lại rất đặc biệt.

Dường như, nó không buồn cũng chẳng vui, không phấn chấn cũng chẳng sầu bi... Nó tư lự. Một cái tư lự rất thật! Nó không thể suy nghĩ được nhiều chuyện vì nó còn nhỏ quá, nhưng hình như nó biết cảm nhận cuộc sống xung quanh theo một cách rất riêng, bằng cái nhìn của chính nó! Điều ấy khiến nó khác biệt trong mắt tôi và khác với tất cả những đứa bé khác.

Bên cạnh đó, trên đường lên Hoàng Su Phì, đoàn tôi có đi bộ ngang qua ngôi nhà của một người Dao đỏ nằm kế bên các khoanh ruộng bậc thang. Nhà có một người phụ nữ đã luống tuổi đang ngồi nhóm bế.

Chưa kịp nói gì, bà bất ngờ bước ra ngoài, bàn tay nắm lên cánh cửa nhìn chúng tôi. Tôi đã gắng xin bà chụp một kiểu ảnh bà đẩy cửa ra, bởi đôi bàn tay mà tôi chưa từng được thấy. Đó là bàn tay của con người cả một đời làm ruộng nên móng tay chỉ còn một nửa vừa thâm vừa đen xì, to bè, vạm vỡ.

< Cậu bé người Mông khiến chúng tôi cứ nhớ mãi.

Nỗi xúc động, khi một bàn tay tôi-chưa-từng-được-thấy-trước-đây đã đẩy cánh cửa nhà họ để tôi thấy cuộc sống đồng bào tôi trên miền cao nguyên đã từng chỉ có đá và bây giờ thì không chỉ toàn là đá, thực không thể nào quên...

Trở về thủ đô giấc mơ tam giác mạch của tôi trên Hà Giang đã thắm sắc phớt hồng. Tôi vẫn còn chưa được chụp cánh đồng hoa tam giác mạch Sủng Là – một giấc mơ chưa nở hoa, phải trở lên lại thôi! Hẹn gặp lại một ngày không xa, Hà Giang nhé!

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Thành Trang (Dantri), internet

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Đến Phó Bảng tìm về quá khứ

Hà Giang không chỉ có những đồng lúa vàng bao la, những con dốc lượn quanh chân trời, phiên chợ rộn ràng màu sắc…, Hà Giang còn có thị trấn Phó Bảng nằm yên ả bên dưới chân núi ở vùng thung lũng Sủng Là.

< Thị trấn Phó Bảng cách Hà Giang chừng 120 km. Đường vào Phó Bảng rất nên thơ.

Tôi ghé Phó Bảng vào một buổi chiều, sau khi đã khám phá những đoạn đèo và mải mê chụp ảnh cánh đồng lúa vàng rực. Ấn tượng đầu tiên của tôi về thị trấn nhỏ này là những ngôi nhà bằng đất san sát nhau. Bước vào Phó Bảng, tôi có cảm giác như mình đang lạc vào một trường quay lớn của một bộ phim cổ xưa.

Phó Bảng chỉ có chưa đến 50 căn nhà. Ngắm những ngôi nhà mới cảm nhận được sức mạnh và sự sáng tạo của con người. Chỉ từ đất và gỗ mà người dân nơi đây có thể tạo nên một lối kiến trúc không thể lẫn vào đâu với màu nâu giản dị tạo cho thị trấn nhỏ nét trầm lặng rất riêng.

< Không gian cổ kính của Phó Bảng.

Phó Bảng như tách mình ra khỏi thế giới để giữ lại nét cổ kính và tĩnh mịt của không gian và thời gian. Mỗi khi nghĩ về Phó Bảng, tôi nhớ nhất về những con người hiền lành và dễ mến. Du khách đến đây, có thể đậu xe máy ở đầu làng và thoải mái đi chụp ảnh ở bất cứ nơi đâu.

< Em bé Phó Bảng sẵn sàng làm người “mẫu ảnh” cho du khách.

Những đứa trẻ sẵn sàng trở thành một hướng dẫn viên nhí để dẫn bạn lang thang tìm hiểu về văn hóa và nét kiến trúc lạ ở Phó Bảng. Khi đã mỏi chân thì du khách có thể dừng lại ở hiên nhà và trò chuyện với các cụ. Hình ảnh cụ già ngồi trước hiên nhà đã trở thành hình ảnh quá quen thuộc với những người từng ghé đến miền đất này. Hình ảnh đó chính là sợi dây liên kết vô hình để người ta nhớ về quá khứ.

Người dân Phó Bảng từ già đến trẻ đều hiền lành và sẵn sàng mời bạn vào nhà trò chuyện hoặc mời rượu xã giao. Chỉ tiếc một điều rằng, do du lịch chưa phát triển nên du khách chỉ có thể ghé đến Phó Bảng vào ban ngày vì ở đây không có nhà nghỉ hay khách sạn.

Nhưng nếu may mắn làm quen được với người dân ở đây thì du khách có thể xin ngủ nhờ một đêm, để biết cái cảm giác tĩnh mịch của một thị trấn nhỏ bên chân núi, để thấm cái lạnh của một lần ngủ trong ngôi nhà đất.

Du lịch, GO! - Theo iHay, internet

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Một ngày ở bản Hốc

Bản Hốc là một bản bình yên của người Thái cách huyện lỵ Văn Chấn khoảng 5 Km.

Bản làng từ lâu được du khách yêu thích khám phá cung đường Tây Yên Bái chọn làm trạm dừng chân đầu tiên, nạp nguồn năng lượng mạnh mẽ cho những cung đường gay go kế tiếp.

< Một góc bản Hốc, xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Cảm nhận đầu tiên của du khách khi đến bản Hốc, xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, là một không gian bình yên với tiếng suối chảy róc rách, những ngôi nhà sàn mái lá cùng các thiếu nữ Thái má ửng hồng trong trang phục truyền thống đầy màu sắc.

< Bản Hốc hiện ra với những ngôi nhà sàn mái lá mộc mạc, thấp thoáng đâu đó là vài căn nhà màu sơn tươi mới.

Tôi vào bản Hốc đúng vào ngày trời nắng đẹp. Cái nắng thu vàng rực nhưng không hề chói chang. Một không khí trong lành, một cảm giác bình yên đến khác lạ trên con đường đất dẫn vào bản. Bản Hốc hiện ra với những ngôi nhà sàn mái lá mộc mạc, thấp thoáng đâu đó là vài căn nhà màu sơn tươi mới như nét chấm phá tô điểm thêm cho mảng màu trầm.

< Du khách đến thăm bản Hốc sẽ được thưởng thức các món ăn truyền thống của người Thái.

Dưới vườn nhãn xanh tốt, ruộng ngô mơn mởn đang độ xuân thì là tiếng cười đùa vui vẻ của các thiếu nữ Thái má ửng hồng trong trang phục truyền thống đầy màu sắc. Các thiếu nữ Thái tay cuốc, vai gùi… khiến tôi như bị mê hoặc, đắm say bởi vẻ đẹp trong sáng, hồn nhiên như chính mảnh đất này.

< Góc bếp của người Thái luôn là nơi sum họp vui vẻ và ấm cúng nhất trong nhà.

Góc bếp của người Thái luôn là nơi sum họp vui vẻ và ấm cúng nhất trong nhà. Tôi vào bếp để xem các thiếu nữ Thái chuẩn bị cơm tiếp khách của gia đình. Món xôi màu được ngâm bằng cây thuốc tím, món Pá Pỉnh Tộp nướng ướp hạt tiêu rừng, quyện mùi thơm của cơm lam, của rêu suối nướng cùng bát canh rau rừng mát lạnh… khiến tôi có cảm giác không chờ đợi được nữa mà chỉ muốn nhón thử ngay lập tức.

< Phụ nữ Thái trong trang phục truyền thống đón khách từ chân cầu thang.

“Sợ” nhất nhưng cũng vui nhất là lúc dùng cơm cùng gia đình. Mỗi lần tôi nâng chén lên lại được nghe một câu hát hay một câu ví von nào đó khiến mình không thể từ chối được. Vậy là cuộc vui cứ kéo dài mãi…

< Chủ và khách cùng thưởng thức những món ăn truyền thống của người Thái.

Khi đã có tí men say, các thiếu nữ Thái kéo tôi vào những điệu dân vũ nồng say (đó là nét đặc sắc của văn hóa Thái) như múa xòe, múa sạp, múa nón… quanh đống lửa trại bập bùng mà rạo rực lòng người. Ở bản Hốc, các hoạt động văn hoá, văn nghệ được tổ chức khá thường xuyên. Bên cạnh khu đốt lửa trại là suối khoáng nóng tự nhiên.

< Các cô gái Thái đắm mình dưới dòng khoáng nóng.

Tôi ngắm nhìn các thiếu nữ Thái với làn da trắng mịn đang đắm mình dưới làn nước nóng, rồi xuống tắm cùng, trò chuyện thoải mái. Ở đây có một phong tục đặc biệt là trò chuyện, tâm sự bao lâu cũng được nhưng cấm sờ vào người những thiếu nữ đó. Có không ít du khách đã ra tắm suối khoáng nóng vào ban đêm. Tắm suối nóng lúc này thật thú vị khi nó làm cho khách tỉnh cơn say, một cảm giác như đang thư giãn, chữa bệnh… sau những căng thẳng, mệt mỏi, lo toan bộn bề.

< Chọn mua cho mình một món quà kỷ niệm.

Tôi đã ghé thăm gia đình anh Vi Quang Thuật, một trong 4 hộ được gắn biển du lịch trong bản. Chọn thăm gia đình anh bởi trước đó, vào năm 2008, với tính chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, anh Thuật là người đầu tiên trong bản làm du lịch cộng đồng. Anh đã đưa không biết bao nhiêu đoàn khách tới đây đi thăm các điểm du lịch trong bản, thậm chí cả những điểm du lịch nổi tiếng trong huyện như Cánh đồng Mường Lò, Suối Giàng…

< Gian hàng bán đồ thổ cẩm.

“Tôi tự tin về dịch vụ du lịch của gia đình và tôi cũng tin rằng, cảnh sắc thiên nhiên ban tặng cho Bản Hốc rất đẹp, có sức hấp dẫn đối với khách du lịch trong cũng như ngoài nước”, anh Thuật chia sẻ. Khách du lịch đến nhà anh nghỉ chân ai cũng đều mong muốn quay lại. Anh chia sẻ thêm, du lịch cộng đồng cần phải có sự tham gia của cả cộng đồng, thôn bản chứ không thể riêng lẻ vài hộ. Có như vậy nó mới thật sự bền vững, chuyên nghiệp.

< Du khách thích thú chiêm ngưỡng những món quà lưu niệm độc đáo.

Hiện cả bản mới có 4 gia đình được treo biển làm du lịch. Theo chủ trương của huyện, tháng 10 này sẽ hoàn thành treo biển hơn 20 gia đình tham gia làm du lịch cộng đồng. Đối với các hộ gia đình này, huyện tổ chức cho đi tham quan các mô hình làm du lịch cộng đồng phát triển tốt như: bản Lác (Mai Châu - Hòa Bình), bản Ten (thành phố Điện Biên)…, trên cơ sở đó, huyện lấy ý kiến, ý tưởng của người dân tham quan các mô hình du lịch cộng đồng nhằm áp dụng vào thực tế địa phương.

< Du khách và người dân cùng đắm say trong điệu múa xòe.

Mới đây, điểm du lịch bản Hốc đã được ngành du lịch và UBND huyện Văn Chấn tiến hành khảo sát, xây dựng thành Khu bảo tồn văn hoá người Thái Đen ở Tây Bắc.
Những điểm nhấn như: nhà sàn cổ, phong tục tập quán, ẩm thực, lễ hội, trang phục, nhạc cụ, y học cổ truyền, nghề truyền thống và suối khoáng nóng… đều được chú ý khôi phục, bảo tồn.

Du lịch Bản Hốc

Du lịch, GO! - Theo Thảo Vy - Trịnh Văn Bộ (SGTT)

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Lên bản Nậm He

Sau gần một ngày trời đi ôtô gần 500km lên thành phố Điện Biên Phủ, 120km xuống thị xã Mường Lay, một giờ ngồi xe gắn máy trên những con đường dốc uốn lượn như đường lên trời và lội qua những khe suối nước chảy xiết, đá lởm chởm, chúng tôi đến được bản Nậm He (Mường Tùng - Mường Chà – Điện Biên ).

“Đặc sản” một bản nghèo Tây Bắc

Lên Tây Bắc mùa này mưa ít nhưng đường vào bản vẫn lầy lội, trên đường chúng tôi bắt gặp không ít những chiếc xe bị “mắc cạn”, chính chiếc xe của chúng tôi cũng là nạn nhân của những “chiếc bẫy” mà địa hình nơi đây giăng để giữ chân khách.

“Đặc sản” đầu tiên của Nậm He có lẽ là những con dốc, những cánh rừng bạt ngàn, suối và vực sâu. Mỗi khi vào những đoạn cua tay áo, bác xe ôm vào số, thắng phanh điêu luyện không thua gì những tay đua hàng đầu thế giới. Xen lẫn giữa những cung đường ấy là những cánh cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, những dòng suối...

< Đường lên Nậm He.

Nậm He là một bản nhỏ nằm ở phía tây bắc, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 70km, thuộc xã Mường Tùng, xã vùng sâu đặc biệt khó khăn của huyện Mường Chà, xã mường Tùng có tổng diện tích tự nhiên là 17000ha. Toàn xã có gần 3500 nhân khẩu, chủ yếu là bà con dân tộc Thái. Trung tâm bản là những căn nhà sàn làm bằng gỗ gần chân núi.

Đây là nơi định cư chủ yếu của người Thái.  Lúc nông nhàn, chị em đưa thoi dệt vải thổ cẩm. Rất nhiều khăn piêu, váy, áo, túi xách… thêu hoa văn tinh xảo bán tại các chợ, điểm du lịch là do bàn tay khéo léo của các thiếu nữ Thái Nậm He làm ra. Còn bà con người Mông từ bao đời nay vẫn ở trên núi cao. Cuộc sống của họ vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp.

Những ngày rong ruổi ở bản làng Tây Bắc, gặp những đứa trẻ khiến tôi nhớ lại ngày thơ bé của mình ở vùng đất xa xôi khác. Những ánh mắt tròn vo ngây thơ, những khuôn mặt lấm lem, những mái tóc rối, quần áo xộc xệch rách vá chằng chịt… Trẻ con ở đây ngoài giờ đến lớp hầu như đều phải phụ giúp bố mẹ lên nương rẫy hay trông em.

Một buổi chiều khi chúng tôi đang mải mê chụp những bức ảnh ở trên một cánh đồng thì bắt gặp một cô bé đi hái rau dại, đang ngồi tập viết tên và đánh vần cho đứa em nhỏ hơn. Cô bé ăn mặc phong phanh giữa cái lạnh cắt da cắt thịt. “Cháu ước gì có xe đạp để đi học”, câu hỏi của em làm tôi bị “sốc”, hỏi ra mới biết em tên là Vi Thị Hường, học sinh lớp 5, trường tiểu học Mường Tùng, vì đường đi học xa quá nên em ước có một chiếc xe đạp để tới trường, nhưng nhà nghèo, tiền ăn còn chưa đủ, lấy đâu ra tiền mua xe.

Điện Biên là nơi gặp gỡ và cư trú của 21 dân tộc anh em, trong đó, đông nhất là người Thái 46%; người Kinh 24,6%; Mông 18,6%; Khơ Mú 5,6%, còn lại là người Tày, Nùng, Hoa, Puộc, Xinh Mun... nên có một truyền thống văn hoá rất đặc sắc.

Chúng tôi lên Nậm He vào đúng thời điểm đất nước bước sang năm mới 2012. Người dân nơi đây tuy không đón Tết dương lịch ồn ào như người thành phố, nhưng có lẽ họ mến khách hơn, hay họ vẫn thế trong suốt cả năm dù phải lao động vất vả. Khách vào nhà mới hỏi thăm được dăm ba câu, chủ nhà đã bảo đi mổ gà làm cơm mời khách ở lại.

Quả thực không thể từ chối, vì những người dân nơi đây cho rằng,  như thế nghĩa là khách coi thường, chê bai nhà mình. Chủ nhà cũng không quên gọi hàng xóm và anh em xa gần đến cùng ăn uống. Chúng tôi đến nhà nào cũng được “nói chuyện” bằng… rượu. Cách uống rượu của người dân nơi đây cũng khác.

Mỗi người uống với khách phải ba chén. Chén thứ nhất và chén thứ hai phải uống cạn vì “khách ở xa tới thăm, đôi chân mệt mỏi phải uống liền hai chén cho đôi chân khỏe lại để đi tiếp”. Chén thứ ba là những lời chúc may mắn, tốt đẹp dành cho nhau. Nếu chén thứ ba này mà chủ nhà thấy thấy quý “khách” thì đổi chén cho nhau.

Đồng bào nơi đây có rất nhiều loại rượu: rượu tai gấu, rượu táo mèo, rượu sâu chít, rượu ngô, rượu sắn...  Hầu như gia đình nào cũng có những bếp lò ngun ngút khói, lại gần cảm thấy vị nồng của hương rượu thơm đang chưng cất.

Ngoài sân, dưới gác nhà sàn đầy những nong đựng sắn, ngô được người dân sơ chế và những thùng ủ men rượu. Để có được những chai rượu sắn trong vắt và mát rượi, đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn: Sắn sau khi được thu hoạch ở trên đồi về, băm thành từng lát nhỏ, rửa sạch, sau đó bung cho chín rồi trộn men, ủ lên men và cho vào hũ (chum, vại) bịt kín trong khoảng 20-30 ngày mới đem chưng cất.


< Thi công đường điện trung thế vào bản Nậm He, xã Mường Tùng.

Rượu sâu chít của Điện Biên cũng là một thức uống “vang danh thiên hạ” từ lâu. Thức uống này còn có tên gọi khác là Bạch trùng thảo, là loại sâu trắng ký sinh trong loài cỏ lau. Xuất xứ của tên chữ cũng như tên gọi nôm na đều từ một loại sâu ngâm rượu. Chít là tên một loại sâu sống trong thân cây chít - cây bông đót, mọc hoang ở các triền núi đá vôi nối tiếp nhau trải dài bất tận ở miền Tây Bắc.

Đồng bào Thái ở Nậm He cho biết mùa khai thác sâu chít kéo dài tháng 4 đến tháng 7 dương lịch. Đấy là khoảng thời gian ấu trùng sâu chít ăn đọt non cây chít và phát triển thành sâu dài cỡ năm phân, to bằng đầu mút đũa, thân có ngấn phân chia thành từng đoạn nhỏ, do vậy trông hình dáng giống hệt con sùng.

Khác với rượu tắc kè có màu vàng ánh xanh, rượu sâu chít có màu vàng đục với lớp váng dầu rất mỏng. Hương vị của rượu sâu chít không có vị tanh và đậm đà hơn. Rượu sâu chít uống nhiều không gây nhức đầu, nếu lỡ uống say, khi tỉnh dậy vẫn thấy tinh thần sảng khoái, người khỏe ra sau một giấc ngủ dài.

Cụ bà Thào Thị Hoa kể, dưới thời thực dân phong kiến, sâu chít là đặc sản chỉ có bọn quan lại, lãnh chúa mới được dùng, còn người dân địa phương phải khai thác đem về “cung tiến” cho bọn chúng.

Tôi nhớ một lần đọc ghi chép của nhà thơ Chu Thùy Liên là người dành nhiều tâm sức nghiên cứu về văn hóa ẩm thực của bà con các dân tộc ở Điện Biên: “Ngày xưa, khi đến mùa sâu chít, Đèo Văn Long – một lãnh chúa ở miền Tây Bắc, chỉ đạo đám thuộc hạ là các thổ ty huy động dân bản khai thác để làm quà dâng lên bọn thống lý…”.

< Công nhân trên công trường thủy điện Nậm He.

Một phần làm nên một Điện Biên mặn nồng, ấy là sắc đẹp hoa ban và điệu xòe mê mải. Hoa ban trắng trời trắng đất làm nên mùa xuân của núi rừng Tây Bắc. Nhưng vì mùa xuân chưa tới, nên chúng tôi chỉ có thể được thưởng thức rượu và những điệu xòe Thái - nét văn hoá đặc trưng, "tài sản" chung của các dân tộc ở Điện Biên.

Múa xoè, tiếng Thái là “Xóe voóng”. Khi những tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên đan xen tiếng reo hò của nam thanh, nữ tú thì vòng xòe được hình thành. Mọi người đều có thể tham gia vào vòng xòe, quây quần bên đống lửa, và vòng xòe không ngừng mở rộng. Trong không khí đêm hội, con người quên đi những mệt nhọc, cùng cười vui bớt sầu lo, trở về với tâm trạng thoải mái.

Sau hội xòe, trở lại với cuộc sống đời thường, con người thấy yêu lao động, yêu cuộc sống hơn. Khi tham gia vòng xòe trai gái còn được gần nhau, được lựa chọn bạn xòe, được thể hiện tình cảm riêng tư.

Lên Điện Biên mùa này còn bị ngút mắt bởi những rừng dẻ mùa quả rụng. Đồng bào người Thái vào rừng nhặt quả dẻ và đem ra chợ bán, giá rất rẻ, chỉ khoảng 10.000đ một kilôgam. Anh bạn làm ở công ty xây dựng Sông Đà 706, chủ đầu tư nhà máy thủy điện Nậm He, nói sẽ mua tặng chúng tôi vài yến hạt dẻ, như một thức quà miền rừng, chỉ sợ không mang về được tới Hà Nội.

Đón Tết trên công trường thủy điện

Tới Nậm He, muốn gặp người Kinh cho “đỡ nhớ miền xuôi” thì có thể tới các công trường xây dựng. Hiện nay, Nậm He đang được Nhà nước đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện. Cho đến nay, nơi này vẫn chưa có điện sáng, nhưng từ tháng 4.2010, dự án Nhà máy thủy điện Nậm He đã được triển khai xây dựng.


< Nhà máy Thủy điện Nậm He đang xây dựng.

Thủy điện Nậm He được xây dựng trên suối Nậm He, là thượng lưu trái của suối Nậm Lay. Dự kiến tháng 6 năm 2012,  khi hoàn thành, nhà máy thủy điện này sẽ hòa điện vào lưới điện quốc gia mỗi năm trên 60 triệu KWh. Tính đến tháng 6.2011, sau khi điều chỉnh, Dự án Nhà máy thủy điện Nậm He có công suất lắp máy 16 MW do công ty TNHH Một thành viên Sông Đà 706 làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư hơn 400 tỉ đồng, sản lượng điện bình quân 61,09 triệu kw/năm.

Tháng Chạp trên công trường thủy điện Nậm He khác hẳn với không khí trầm lắng tại các công trường trong thời lạm phát. Nơi đây, những đội công nhân miệt mài, những máy thi công hối hả chạy hết công suất.

Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, thời tiết khắc nghiệt là điều mà mỗi người có thể lường trước, nhưng để đối mặt với nó thật không đơn giản. “Khô đầu thì ướt quần áo” đó là câu cửa miệng của mỗi người thợ trên công trường thủy điện Nậm He. Nắng thì gay gắt như đổ lửa, mưa thì vần vũ ẩn họa lũ ống, lũ quét bất ngờ.

Hiện nay, công trình đã hoàn thành các hạng mục: Đường vào công trường; đào tháp điều áp, đang tiến hành đổ bêtông gia cố; đã đào được 2,8km/3,4km hầm chính; đã hoàn thành thi công hệ thống cống dẫn dòng; hoàn thành công tác đào hố móng đập dâng, đập tràn; đã đổ được hơn 20.000m3 bê tông/58.000m3 bê tông thiết kế đảm bảo chống lũ năm 2011.

Tính đến hết năm 2011, trên công trường Thủy điện Nậm He có 194 kỹ sư, công nhân làm việc. Những ngày áp Tết Nhâm Thìn, khi mọi người nô nức trở về sum họp với gia đình thì anh Hoàng Xuân Sang, quê ở Nam Đàn, Nghệ An, cũng đang chuẩn bị đón Tết, nhưng ngay tại công trường. Tính cả Tết Nhâm Thìn này, anh Sang đã có 3 năm đón Tết trên Nậm He, liên tục từ năm 2009 đến nay, 2 năm trước có cả vợ và con anh cùng ở lại.

Còn anh Nguyễn Thanh Tùng, cũng đón Tết tại Nậm He kể lại kỷ niệm Xuân Tân Mão anh ở lại công trường, không có pháo hoa, nhưng những người kỹ sư, công nhân nơi đây lại có một loại pháo rất độc đáo,  đó là tiếng nổ máy vang rền giục giã.

Năm nào cũng thế, khi kim đồng hồ điểm đúng giao thừa, bài hát chúc mừng năm mới vang lên trên tivi, anh lại chạy thật nhanh ra một chiếc máy nào đó gần nhất, khởi động để nghe tiếng máy nổ giòn, và để lấy may cho năm mới. Nhưng khi những tiếng pháo ấy ngưng lại, thì không khí như chùng xuống. Không ai bảo ai, mọi người đều để tâm trí mình trôi về với quê hương, với gia đình, với vợ con, với bữa cơm tất niên sum vầy đoàn tụ. Những dòng nước mắt lặng lẽ chảy vào trong.

Rời Điện Biên trong một buổi sáng mùa đông, bánh xe quay nghiêng theo vòng cung của những con đèo, để lại sau lưng những nếp nhà sàn nghèo chênh vênh bên sườn núi. Có lẽ tôi đã đang nhớ Nậm He, nhớ cây rừng rậm rạp hoang vu, những con suối hiền hòa nhưng cũng có lúc dữ dội len lỏi qua khe đá.

Nhớ câu nói của cô bé gánh rau “cô ơi, qua bản ăn cơm, uống chén rượu với bản nhé”, nhớ đêm hội xòe được nghe các anh công nhân đọc thơ Trần Tâm “Mường Tùng đêm đẹp mộng mơ… / Để ta say uống ánh mờ trăng lên / Giữa rừng văng vẳng tiếng rền / Cuối thu nghe tiếng Nậm Piền suối ơi! / Bao vì sao sáng ánh rơi / Lung linh trong ánh điện trời Nậm He / Soi con đường rộn tiếng xe / Qua rừng cánh kiến lập lòe đóm bay..”,  nơi tôi đi qua trong chuyến hành trình về với núi rừng Tây Bắc đầu tiên của mình…

Du lịch, GO! - Theo Trọng Tình (Báo Lao Động), internet