Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

Vườn đào Nhật Tân giữa núi rừng Khánh Hòa

Một vườn đào Nhật Tân rất độc đáo, tưởng rằng chỉ có ở các tỉnh phía Bắc, nhưng lại xuất hiện và nở hoa rực rỡ giữa núi rừng ở Khánh Hòa. Vườn đào nằm gần điểm du lịch lý thú là thác Tà Gụ (Sơn Hiệp, Khánh Sơn).

Những ngày cuối năm, chúng tôi ngược núi rừng đến đây để tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vườn đào gần 500 gốc đang nở hoa khoe sắc.
Anh Hoàng Văn Danh, nhân viên công ty song mây Dũng Tấn (Thái Bình), người chăm sóc vườn đào này cho biết: “Từ năm 2009, nhận thấy khí hậu ở vùng này cũng có nét tương đồng như phía Bắc là se lạnh, rất thích hợp với cây đào nên đã đưa hơn 400 gốc đào vào trồng. Vườn đào phát triển rất tốt và dịp Tết năm ngoái có đông đảo khách hàng từ dưới xuôi tìm lên mua đào”.


< Một vườn đào Nhật Tân đúng "chất" khoe sắc hồng giữa núi rừng. Sắc hoa đào Khánh Sơn to và đẹp không kém đào phía Bắc.

Dịp Tết Tân Mão năm nay, công ty có thêm gần 500 gốc đào Nhật Tân. Do đã nghe tiếng nên rất nhiều người đã lặn lội cả trăm cây số đến đây chỉ để tìm mua một gốc đào.

Anh Lê Anh Dũng từ thành phố Nha Trang lên mua đào, nói: “Tôi đã nghe nói đến vườn đào này. Năm ngoái, có dự định lên xem rồi mua một gốc về chơi Tết nhưng công việc bận quá nên không lên được. Không ngờ, ở một tỉnh phía Nam mà cũng có vườn đào đẹp thế. Tết mọi năm, nhà tôi mua mai, năm nay thì mua đào”.

< Anh Hoàng Văn Danh phấn khởi bên vườn đào khoe sắc rực rỡ.

Còn anh Ngô Văn Thiện thì chia sẻ: “Tôi là người Bắc vào Nha Trang làm việc, mấy năm mới về một lần. Do đã quen có cành đào trong nhà mỗi dịp Tết đến nên lặn lội lên đây tìm mua. Những năm trước, toàn phải nhờ người mua ngoài Hà Nội gửi vào. Đào nơi đây cũng đẹp không kém gì đào Bắc”.

< Rất nhiều  người tìm tới mua đào để có chút không khí xuân phương Bắc.

Anh Danh cho biết: “Giá mỗi gốc đào từ 300.000 - 700.000 đồng. Từ giữa tháng Chạp đã có người lên chọn trước. Ngoài Khánh Hòa, chúng tôi còn vận chuyển ra Phú Yên, Bình Định, Đà Nẵng… để bán. Chúng tôi đang dự định sẽ mở rộng diện tích trồng đào tại đây”.

Ông Nguyễn Tấn Lâm, Chánh Văn phòng UBND huyện Khánh Sơn nói: “Đối với cây hoa đào thì việc trồng ở vùng miền núi Khánh Sơn là khá phù hợp. Đào nơi đây đảm bảo được chất lượng và trở thành một thứ hàng hóa cung cấp cho thị trường Nam Trung Bộ khi dịp Tết đến. Huyện sẽ giúp đỡ, hỗ trợ cho bà con trong việc phát triển cây hoa đào”.

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Thành Chung (Dân Trí)

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Đá làng Nhồi



Lẽ ra, phải gọi là xứ đá, vương quốc đá. Bởi nơi đây toàn đá. Đá xếp chồng lên đá. Đá ngổn ngang khắp cả một vùng làng Nhồi. Đá được ghi vào sử sách quốc gia cả trăm, nghìn năm nay. Và người dân nơi đây được sinh ra giữa tứ bề là đá. Họ sống bằng nghề làm đá. Và đá đã nuôi sống họ hàng trăm, nghìn năm nay.

< Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi Nhồi.

Thế nên người ta nặng lòng với đá, để rồi họ đã trả ơn đá bằng những tác phẩm nghệ thuật của mình, đóng góp vào các công trình hạng mục quốc gia. Và “bay” cả thương hiệu ra tầm quốc tế. Đó là câu chuyện làng nghề chạm khắc đá ở thị trấn Nhồi (huyện Đông Sơn, Thanh Hóa).

Choáng ngợp giữa “biển” đá

Nhớ mãi cái hôm vào núi Nhồi, giờ nghĩ lại nếu có ai hỏi tôi, cảm giác nơi đây thế nào? Chắc chắn tôi chỉ biết thốt lên: Ôi, quá đẹp! Cả một công trường đá. Không… đúng hơn là cả một “biển đá”. Những khối đá to vật, xếp chồng lên nhau, tạo thành những ngọn núi đá khổng lồ, cao vút tầm mây.

Đá án ngữ cả một vùng thung lũng như thạch trận. Có ngọn núi, đá đen bóng như hắc hín. Có ngọn núi, đá đỏ chót như cục son môi khổng lồ của nàng thiếu nữ. Lại có ngọn núi nhuốm cả một màu trắng xám. Đá nhiều đến nỗi khiến ai đó nhìn thấy cũng phải nhức mắt.


< Một góc thị trấn Nhồi, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.

Anh Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1978 dẫn tôi tiến vào “vương quốc đá”. Con đường thênh thang mà chúng tôi đang đi đột ngột nhỏ xíu lại như một vạch đỏ khéo léo uốn mình theo những quả đồi án ngữ. Nhìn từ ngoài vào trong, núi Nhồi trông giống như cái phễu hút con đường vào sâu tít tắp. Và cái phễu ấy đã lôi cuốn tôi với sức hút lạ lẫm. Cả một dãy núi đá Nhồi chạy quanh co, uốn lượn đến cây số. Cứ cách vài chục mét lại có một vài ngọn núi đá kỳ dị. Có ngọn giống như cái nấm xòe ô. Có ngọn lại bè bè như cánh buồm. Có ngọn lại giống như cột thu lôi đâm chọc lên bầu trời xanh thăm thẳm.

Những ngọn núi với các hình thù quái dị ấy không phải tự nhiên, mà do con người đục, đẽo đá đời đời, kiếp kiếp mà thành. Bạn đi cùng bảo: Hãy quan sát sang ngọn núi phía nam của thung lũng. Vâng, đó là cả một dãy đá trải dài. Hàng trăm người nông dân đang khai thác đá quanh triền núi. Nhìn từ xa trông họ giống như những chú kiến bé xíu đang gặm nhấm miếng pho mát khổng lồ. Nhiều dãy núi trông như miếng dưa hấu bị người ta cắn dở, lộ màu đỏ chót.


< Toàn cảnh chùa Tiên Sơn.

Không nén được lòng mình tôi quyết giơ máy ảnh lên zoom hết cỡ về những ngọn núi đá kỳ dị, bỗng giật mình suýt tuột máy khỏi tay. Ôi, nó đẹp quá. Đẹp đến choáng ngợp, đến sửng sốt, nó như một vách thành khổng lồ đứng sừng sững che chở, bảo vệ người dân bao đời nơi đây.

Đang ngẩn ngơ trước cảnh kỳ vĩ ấy, một anh bạn nơi đây rỉ rả vào tai tôi hỏi nhỏ: “Bạn từ phương xa đến, có muốn nghe nhạc không?”. Tôi chưa hiểu chuyện gì thì cậu ta đã “bắt cóc” tôi và Nguyễn Văn Minh lên chiếc Dream chạy thẳng vào trong thung lũng đá. Chạy được một hồi, “kẻ bắt cóc” chúng tôi dừng xe lại cười bả lả, ý rằng xin lỗi, đùa tí. Không!... Cảm ơn bạn. Vì xung quanh tôi lúc này là cả một dàn nhạc hợp tấu vọng vang khắp thung lũng. Nó to và rôm rả hơn tất cả mọi chiếc loa thùng nào phát ra. Đó là tiếng nhạc của đá. Tiếng rè rè của máy tiện đá. Tiếng cốc cốc của tiếng đục đá chạm trổ. Tiếng thùng thục của những phiến đá được người ta vứt lên thùng xe tải. Đôi lúc lại là tiếng lách cách, đôm đốp phát ra từ những giàn máy xay đá.

Tôi không giấu nổi xúc động khi thấy cảnh người dân nơi đây làm việc. Họ say nghề, yêu nghề, cho nên giữa cái nắng chói chang, họ vẫn hì hục oằn mình giữa “biển” đá để khuân, vác, ghè, đẽo...

Cả một công trường bụi đá trắng xóa như tung hỏa mù. Bụi trắng tinh như bột phấn. Bụi bay bảng lảng giữa công trường. Bụi phớt bột trắng lên những ngọn cỏ xung quanh. Bụi phủ cả lên áo, dính cả lên khuôn mặt của người đục, đẽo đá… và bụi đá tạo nên cái đặc trưng nơi đây.

Thổi hồn vào đá

Khi làng Nhồi xứ Thanh được thiên nhiên ban tặng cho một “biển” đá, thung lũng đá, thì hàng trăm nghìn năm nay, người dân nơi đây trả ơn đá bằng việc dùng đôi tay tài hoa của mình thảo lên đá với nhiều hình thù. Nhìn những bức tượng đá, mái đình đá, chiếu thư bằng đá, bức rèm hoa, bia mộ đá… ta ngỡ như chúng đều có linh hồn.

Công trường của những người thợ là một bãi đất rộng, xung quanh toàn đá. Người dân thì lại gọi là “sân chơi” của những người yêu đá, say mê đá. Dưới cái nắng nóng, người ta vẫn lặn lội giữa “biển” đá, vật lộn với những khối đá khổng lồ mà hầu hết không che bạt chống nắng.

Thậm chí có người không đội cả mũ để tránh mưa, nắng. Họ cứ đầu trần, chân đất hăng say với nghề mà quên cả thời gian và mọi thứ diễn ra xung quanh. Họ kiên nhẫn làm việc như chú ong chăm chỉ. Mặt của họ được phủ bằng một lớp bột đá trộn với mồ hôi nên loang lổ. Tóc của họ cũng được phủ bằng bụi đá nên khô đét, bết lại với nhau thành từng nhúm xơ xác, cằn cỗi. Da cháy xạm đi vì bụi, gió… và nắng. Vẻ đẹp đó nó hoang dã làm sao!

Giữa bụi, gió và nắng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Sao họ không bỏ nghề? Hay chuyển nghề khác nhàn hạ hơn, dễ kiếm tiền hơn? Tôi đã từng đặt câu hỏi này với Nguyễn Văn Thành, 29 tuổi, thợ đá làng Nhồi. Anh Thành thở dài nói: “Vâng! Cái nghề đá nó bạc bẽo lắm em ạ! Tháng chỉ kiếm được 3 triệu với thợ thường và tối đa 5 triệu với người thợ giỏi”. Trong khi đó, trước từ hồi năm 1995 thường xuyên có cảnh người chết vì khai thác đá, có người bị đá đè gãy chân. Giờ thì không còn cảnh tượng ấy, nhưng hầu hết thợ đá cũng không tránh khỏi ảnh hưởng sức khỏe vì bụi đá, nhất là bệnh phổi. Ông Dương Đình Bảy thì phân trần: “Đây này, mới tháng trước tôi phải nằm viện cả tuần vì bệnh phổi đấy!”.


< Tượng đá ở chùa Tiên Sơn.

Thợ đá Nguyễn Văn Hùng thì bảo tôi: “Cậu đừng hỏi vậy, bởi chúng tôi yêu nghề, say nghề của cha ông hàng trăm, nghìn năm nay. Chúng tôi muốn cống hiến cho các công trình hạng mục quốc gia như: tượng đài, lăng tẩm, đình chùa, miếu mạo, cho đến những tấm bia mộ đời thường nhất. Nghề đá đòi hỏi sự kiên nhẫn, do đó có những người không chịu được cơ cực nên bỏ nghề cũng là dể hiểu. Còn những ai trụ được với nghề, sống chết với nghề là những người đã chấp nhận hy sinh vì nghề”.

Có lần tôi hỏi nghệ nhân chạm khắc đá Nguyễn Văn Đức, năm nay anh 35 tuổi: “Thứ nhất, sao anh lại yêu nghề? Thứ hai là, ngấm nghề từ khi nào?”. Anh Đức chỉ nói gọn lỏn câu: “Tôi yêu nghề và ngấm nghề không biết từ khi nào. Nó cũng giống như con dái cá con mới đẻ ra là biết bơi, mà không biết vì sao mình biết bơi vậy”.

8 năm trước, tôi đã từng chứng kiến cảnh người ta rậm rịch làm đá cả đêm trong một lần ghé thăm quê ngoại nơi đây. Không tưởng tượng được cảnh người ta mắc điện sáng trưng cả bãi đá. Người ta tạc những bức tượng cao cả 6-7m. Nghe nói trước đây khi làm tượng đài cao 15m, người ta phải làm giàn giáo, rồi bắc thang lên khối đá khổng lồ ấy để tạc. Thấy bảo đó là tạc hình ông Lê Lợi. Giờ bức tượng khổng lồ ấy được đặt ngay giữa trung tâm TP Thanh Hóa, như một tâm điểm kiêu hùng của xứ Thanh.

Giữa năm 2012 này, tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi vẫn thấy cảnh cứ chiều chiều những chiếc xe tải chở đầy đá trở về làng. Nghe bảo đá ở làng Nhồi không đủ, với lại một số dãy núi đá bị cấm khai thác để làm di tích, vì nghe nói đá ở những ngọn núi quanh hòn Vọng Phu từng cống hiến cho việc xây thành quách, đặc biệt là xây lăng Bác Hồ.

Tuy nhiên, bây giờ người ta không còn làm việc ban đêm nữa, trừ các công trình cấp quốc gia. Thế nhưng, ban ngày người ta làm đá vẫn cứ rào rào như tằm ăn rỗi. Những người thợ vẫn hí húi đục, đẽo, chạm trổ đá với nhiều hình thù mới lạ. Họ không chỉ là nghệ nhân mà còn là họa sĩ, bởi trước khi đục đẽo thì họ phải thảo những bản vẽ của mình lên đá.

Cứ như chàng nghệ nhân Thành ở đây nói, người tạc đá có 3 loại. Loại thứ nhất chuyên tạc theo lối hoa văn truyền thống. Loại thứ hai chuyên tạc theo lối đơn đặt hàng, tức là họ đặt gì mình làm nấy. Còn loại nữa tạc theo phong cách tự mình sáng tác, những người theo lối thứ ba đều là các tay cao thủ thuộc loại tiền bối cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề. Họ say mê đá và yêu đá, coi đá như đứa con tinh thần.

Có những bức họa chỉ vì vô tình chộp được mà người nghệ nhân kịp phác thảo lên bàn đá nên để lại tuyệt tác cho đời. Nhưng có những bức họa chỉ lóe trong óc họ giây lát, rồi không hề quay lại nữa, cho dù mười năm, hai mươi năm, hay cả đời. Cho nên nghệ nhân chạm trổ đá cũng là người nghệ sĩ phải biết nắm bắt cái thần đúng lúc, để thổi hồn vào tác phẩm.

Người và đá được ghi vào sử sách

Sách “Đại Nam nhất thống chí” có ghi: Từ thế kỷ thứ III, có một viên Thái thú đời Tấn đã lấy đá núi Nhồi làm khéng (kẻng), khi đánh lên nghe bảo tiếng ngân muôn dặm, ngoài ra còn dùng khắc bia văn chương.
Đến thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn... đá núi Nhồi được dùng xây dựng nhiều các công trình như: đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm, phủ đệ.

Sau này đá núi Nhồi liên tục đóng góp vào việc xây dựng chùa chiền tầm cỡ lớn như: việc xây dựng nhà thờ Phát Diệm ở Ninh Bình, Phủ Giầy ở Nam Định. Đặc biệt ở làng có cụ Lê Thọ Thuẫn, còn dùng đá núi Nhồi tạc mô hình cầu Hàm Rồng, đưa đi triển lãm Hội nghị Mác-xây. Hội chợ này được mở năm 1922, nghe nói khi Vua Khải Định sang dự. Sau này về nước, Khải Định đã mời cụ Thuẫn vào cung và còn dùng đá núi Nhồi tạc nhiều hình thù như: bức rèm hoa, con ngựa, ông tượng, cho đến cối đá, cái tảng, cậy cột, cái xà, rồng đá... để trang trí cho phủ đệ của mình.

< Nhà ở làng Nhồi.

Cho đến ngày nay người dân làng Nhồi vẫn còn nhớ như in cái chiến tích hào hùng nhất, đó là khi làm bia mộ Phan Đình Phùng và tấm bia Lê Lợi ở huyện Đà Bắc, sông Đà. Bởi hồi đó chiến tranh, bom đạn giặc quần thảo suốt ngày đêm, nhiều khi đang chạm trổ, thấy máy bay địch gầm rú ngang qua là lại phải chui tọt xuống hầm, máy bay đi khỏi lại chui lên làm tiếp. Bài thơ của Lê Lợi trên vách đá cạnh sông Đà cũng được thợ làng Nhồi khéo léo đục đẽo, tách ra khỏi vách núi trước khi xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, để nước khỏi nhấn chìm.

Nhớ lại hồi Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi vào phương Nam, người dân Nhồi cũng theo đến Đà Nẵng, dựng lên một làng đá có tên là Non Nước, nay còn nổi tiếng hơn cả làng Nhồi.

Trong một lần tình cờ gặp TS Phạm Văn Đấu, cán bộ văn hóa tỉnh (sau này chuyển về Trường đại học Hồng Đức, giảng dạy chuyên ngành khảo cổ học), ông bảo, chính đá núi Nhồi cũng góp phần xây dựng thành nhà Hồ. Rồi cả chùa Bút Tháp, Lam Kinh, Tân Trào. Ngay cả Trúc Lâm Thiền viện tận Pháp, thợ làng Nhồi cũng sang tận nơi chạm trổ. Tượng đài Lê Lợi cao 15m cũng từ đá và thợ đá làng Nhồi “thổi hồn” vào mà thành. Rồi đá núi Nhồi cũng được dùng để lát quanh hồ Gươm nhân kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long.

Nhưng có lẽ niềm tự hào nhất của người dân xứ Thanh khi được đóng góp sức người, sức của vào việc xây dựng Bảo tàng và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Làng đá Nhồi có tự bao giờ?


< Hội Nhồi với tục rước Bà Đống.

Vâng! Người và đá làng Nhồi xứ Thanh được ghi vào sử sách như thế đấy! Nhưng đến khi hỏi người dân “xứ đá” rằng, nghề đá làng mình đã “hưởng thọ” bao nhiêu tuổi rồi? Tất thảy mọi người đều ngơ ngác nhìn nhau, ừ nghề đá làng mình có tự bao giờ nhỉ?

May quá, gặp được TS Phạm Văn Đấu, người chuyên nghiên cứu về khảo cổ học. Trong đó cụ thể là nghiên cứu về truyền thống văn hóa Đông Sơn. Theo ông, suốt 20 năm Lý Thường Kiệt trị nhậm ở Thanh Hóa đã từng tiến hành khai thác đá quý ở núi Nhồi để xây dựng nhiều công trình thành quách, chùa chiền, phủ đệ…

Như vậy, làng nghề (đục, đẽo, chạm khắc đá) được hình thành từ đấy. Biết rằng, Lý Thường Kiệt (1019-1105), tính ra thì nghề đá làng Nhồi đã có cách đây khoảng 950 năm trở lên. Tuy nhiên, đây chỉ là giả thuyết. Có thể làng nghề ra đời sớm hơn, thậm chí là ra đời muộn hơn đây rất nhiều. Vì theo như cuốn sách “Đại Nam nhất thống chí”: Nếu tính ra từ đời Tấn đến giai đoạn thời Lý Thường Kiệt còn kéo dài đến 10 thế kỷ. Ôi! thế vậy thì “xứ đá” của người Thanh đã hưởng thọ già lắm rồi, ít cũng phải gần hai ngàn năm.

TS Phạm Văn Đấu chỉ tiếc rằng, mình có nhà biên sử nhưng lại không có người chép lại sử sách làng nghề chạm, khắc đá núi Nhồi. Người dân có gia phả, chủ yếu lại ghi về vai vế, thứ bậc dòng họ. Mà có khi họ làm ăn tối mịt suốt ngày, có ai rỗi mà ghi. Cho nên cái nghề đục đục, chát chát ấy có tự bao giờ cũng mấy ai hay.

Tuy nhiên, để hiểu được lịch sử “xứ đá” có tự bao giờ, chúng ta lại cần phải căn cứ vào những tấm bia mộ đá. Bởi đó là sản phẩm nghề chạm khắc đá, là hiện vật minh chứng cho tuổi của làng nghề. Cứ như sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Một trong những công trình đầu tiên được thợ đá làng Nhồi tạo nên đó là chùa Hình, chùa Tiên Sơn.

Chùa Tiên Sơn ở trong động núi Khế, thuộc Nhuệ thôn, xã An Hoạch. Phía bắc chùa ở sườn núi có một hang đá, có 2 lỗ tả, hữu rộng 5-6 thước, dài chừng 2 trượng xây làm cửa, vách đá khắc tượng quân Đế, bên cạnh khắc tượng Chu Xương, cùng với tả hữu, tất cả 5 pho tượng. Trên đầu chỗ thờ có khắc hai chữ “Nghiêm nhiên”, cả hai bên vách đá có người đá, voi đá, ngựa đá. Phía trên vách đá khắc chìm 4 chữ “Thiên cổ vĩ nhân” và một chữ “Thần” nổi. Chùa Tiên Sơn do Lê Định Truyền, người sở tại dựng năm Hoằng Định thứ 10 (1609)”.

< Đỉnh núi Nhồi trong sương sớm.

Lăng Quận Mãn. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo bằng đá vào loại bậc nhất Thanh Hóa. Tất cả các hiện vật trong khu vực thờ Quận Mãn từ các con giống, lính hầu, điện thờ, ngai thờ… đều được làm bằng đá với một kỹ thuật tinh xảo mà ít nơi có được. Đình Thượng là nơi thờ thành hoàng, “ông tổ nghề đục đá”. Hiện còn lại nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá rất sinh động.

Như vậy, căn cứ vào sách vở thì làng nghề chạm khắc đá núi Nhồi ít nhất cũng đã có từ hơn một ngàn đến gần hai ngàn năm. Tuy nhiên, nó phát triển mạnh mẽ khoảng độ hơn 500 năm.

Du lịch, GO! - Theo Hà Long - Xuân Hoàng (Petrotimes) và nhiều nguồn ảnh khác.

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Tôm hùm Vũng Rô

Vũng Rô là một vịnh biển nhỏ, thuộc xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Thời chiến tranh, đây là một trong những địa chỉ bí mật tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc chuyển vào Nam bằng đường biển. Ngày nay, Vũng Rô là vùng nuôi tôm hùm nổi tiếng của Phú Yên.

Theo UBND xã Hòa Xuân Nam, toàn xã có khoảng 460 hộ nuôi tôm hùm ở khu vực Vũng Rô, với khoảng trên 400 bè, mỗi bè từ 20-50 ô, một số bè lớn lên đến 200 ô. Bình quân mỗi ô nuôi khoảng 70 - 100 con, và hiện khu vực này có khoảng 800.000 con tôm hùm, trong đó tôm của người dân địa phương chỉ chiếm hơn 1/3, còn lại là tôm của những người ở ngoài địa phương đến thả nuôi.

Vũng Rô là vịnh biển kín gió nên rất thích hợp cho nghề nuôi tôm hùm bằng lồng bè. Ảnh là ngư dân đang vệ sinh lồng nuôi tôm:


Tôm hùm ở đây chủ yếu được nuôi bằng bè, thả tập trung ở vịnh Vũng Rô, kéo dài từ Bãi Ngà đến Bãi Lau. Vịnh Vũng Rô có núi che kín gió, độ sâu trung bình trên 10m nên rất thuận lợi cho việc nuôi tôm hùm. Công việc hàng ngày của người nuôi tôm hùm bao gồm: đi lấy thức ăn cho tôm, lặn làm vệ sinh lồng nuôi, vá lưới, cho tôm ăn.

Ông Trần Văn Ngãi, Chủ tịch UBND xã Hòa Xuân Nam cho hay: “Vụ tôm năm 2010 khu vực Vũng Rô chỉ khoảng 200.000 con, nhưng năm 2011 đã tăng gấp 4 lần”. Có thể nói, chưa bao giờ người nuôi tôm hùm ở Vũng Rô lại phấn khởi như năm 2011 vừa qua. Bởi đây được coi là năm được mùa nhất của người nuôi tôm hùm tại khu vực này. Người dân địa phương đã nói vui với nhau là năm “được ăn lộc trời”. Có những hộ gia đình, sau vụ tôm lãi đến hàng tỉ đồng và cũng sau mỗi vụ thu hoạch đó, mảnh đất nhỏ bé này lại xuất hiện thêm vài “đại gia” tôm hùm.

Thức ăn của tôm là các loại cá nhỏ:


Hiện nay, tôm hùm loại 1, loại có trọng lượng 1kg/con trở lên, được tư thương thu mua tại chỗ với giá 1,6 triệu đồng/kg, tăng hơn năm trước khoảng 300 nghìn đồng. Đây là giá cao nhất từ trước đến nay. Giá tôm trung bình mọi năm là 1,3 - 1,4 triệu đồng/kg.

Ông Đặng Xuân Ngời, Chủ tịch Hội Nông dân xã Hòa Xuân Nam cho biết: “Người ít cũng thả nuôi vài trăm con, người nhiều vài nghìn con, hai năm nay tôm hùm ít dịch bệnh, lại được giá nên bà con có lãi cao, vui lắm!". Riêng gia đình ông năm trước thả nuôi 1.000 con tôm hùm, trừ chi phí đầu tư, hao hụt con giống, thu hoạch xong lãi 600 triệu đồng. Năm nay ông thả tiếp 5.000 con, đến nay đã xuất bán 400 con, thu hơn 670 triệu đồng. Dự kiến hết vụ thu hoạch, ông Ngời xuất bán 600 con tôm thịt loại 1, sẽ có lãi trên 700 triệu đồng. Số tôm còn lại chưa đạt chuẩn sẽ nuôi tiếp đến năm sau.

Tôm thường được cho ăn vào buổi sáng sớm:


Vào đầu vụ thu hoạch tôm thương phẩm, mỗi ngày Vũng Rô bán được từ 500kg đến dưới một tấn. Bởi vậy có rất nhiều hộ nuôi tôm có lãi từ 700 triệu đến 1 tỉ đồng như ông Nguyễn Cụt, Lê Đức Tiến, Đỗ Năm, Nguyễn Hiền... Với lợi nhuận cao như vậy, nhiều hộ gia đình nơi đây đang tiếp tục có những dự án đầu tư, mở rộng lồng bè nuôi tôm hùm trong các năm kế tiếp.

Theo UBND xã Hòa Xuân Nam, phần lớn các hộ gia đình nuôi tôm ở đây, thời gian đầu sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy hải sản, trong đó có cả việc đánh bắt tôm hùm. Nhưng do việc đánh bắt ồ ạt, quá nhiều nên nguồn lợi thủy sản ở đây khan hiếm dần. Và việc đánh bắt này dựa nhiều vào yếu tố may rủi, do đó cuộc sống người dân cũng thường bấp bênh. Nhưng từ khi chuyển hẳn sang việc nuôi tôm hùm thì mặt bằng chung về mức sống của các hộ gia đình trong xã đã khá hơn rất nhiều, thậm chí nhiều hộ còn dư dả, trở thành tỉ phú.

Tôm hùm sinh trưởng tốt trong môi trường nuôi bằng lồng bè:


Có được hướng phát triển đó, một phần cũng nhờ Nghị quyết liên tịch giữa Hội Nông dân Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã hỗ trợ cho các hộ gia đình ở đây được vay vốn để chuyển hướng nuôi tôm hùm. Mỗi hộ gia đình được Ngân hàng hỗ trợ cho vay 20 triệu đồng.

Cùng với đó, huyện Đông Hòa cũng đang khẩn trương quy hoạch cơ cấu ngành nghề thủy sản phù hợp theo từng vùng, từng cụm dân cư, từng tuyến ngư trường nhằm phát huy và khai thác có chọn lọc, hiệu quả đối với các loại thuỷ sản. Kết hợp tuyên truyền, vận động, tuần tra, kiểm soát, bảo vệ, xử lí những hành vi vi phạm như dùng hóa chất để đánh bắt thủy hải sản.

Khi thu hoạch tôm thường nặng khoảng 1,3 - 1,5 kg:


Vũng Rô nói riêng và huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên nói chung đang có những chiến lược phát triển kinh tế biển hài hòa với vai trò bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường biển để chính những người ngư dân bám biển vừa giữ vai trò là người bảo vệ dải đất bờ biển duyên hải miền Trung vừa làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình.

Du lịch, GO! - Theo Thảo Vy - Trần Huấn (BĐVN)

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Làng tạc tượng Bảo Hà

Sau hơn 500 năm, những nghệ nhân làng Bảo Hà (xã Đồng Minh – huyện Vĩnh Bảo – Tp. Hải Phòng) vẫn nức danh xứ Đông bởi có nghề làm tượng Phật. Về Bảo Hà hôm nay khắp đường làng, ngõ xóm là những xưởng tạc tượng suốt ngày nhộn nhịp tiếng cưa đục. Người dân Bảo Hà đang làm giàu từ chính nghề truyền thống của ông cha.

< Chân dung tự tạc của ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ.

Xưa kia, làng nghề tạc tượng Bảo Hà từng là nơi sản xuất tượng đẹp có tiếng ở xứ Đông (trấn Đông của kinh thành Thăng Long xưa - PV). Từ thế kỷ XV, ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ đã bày cho người dân trong vùng nghề tạc tượng. Tương truyền, bức tượng tổ Nguyễn Công Huệ và tượng thánh Linh Lang Đại Vương trong miếu cổ làng Bảo Hà là những tác phẩm để đời của cụ.

< Tương truyền tượng Linh Lang Đại Vương có tuổi đời gần 500 năm cũng là một tác phẩm nổi tiếng của ông tổ làng nghề Nguyễn Công Huệ.

Ngày nay, khi kinh tế thị trường phát triển, những người dân Bảo Hà đã mạnh dạn làm giàu cho bản thân và quê hương từ nghề cổ.

< Một cụ già người làng Bảo Hà thành kính trước bàn thờ tổ nghề Nguyễn Công Huệ.

Từ những xưởng nhỏ, nhiều gia đình đã mở rộng quy mô thành xưởng sản xuất lớn hơn đáp ứng những đơn đặt hàng ngày càng nhiều, điển hình như xưởng của ông Văn Túy (Hội nghệ nhân Tp Hải Phòng).

< Cưa máy giúp người thợ tạo hình cho sản phẩm được chuẩn xác.

Bà Nguyễn Thị Ngần, một chủ xưởng chia sẻ: “Tổ tiên đã để lại một nghề quý cho con cháu. Nghề cổ này là nghề giúp chúng tôi có thu nhập. Nếu nói cuộc sống khá giả lên rất nhiều do nghề nghiệp của tiên tổ để lại cũng không có gì quá”.

< Người thợ Bảo Hà dồn hết tâm trí vào mỗi đường đục cho tác phẩm của mình.

Năm 2007 làng nghề Bảo Hà, xã Đồng Minh được UBND Tp Hải Phòng công nhận là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ - sơn mài”. Hiện nay, trong số 973 hộ làm nghề ở Bảo Hà, có tới 180 hộ tạc tượng với 20 xưởng sản xuất lớn nhỏ, tạo việc làm cho hơn 200 lao động địa phương.

< Một tượng Phật cỡ lớn đang trong quá trình tạo dáng.

Hàng năm, làng nghề đóng góp 40% giá trị sản xuất công nghiệp địa phương, thu nhập trung bình mỗi xưởng lớn không dưới 30 triệu đồng/tháng, tháng nào nhiều đơn hàng có thể lên tới 50 triệu đồng.

< Một người thợ làng nghề Bảo Hà.

Những con số trên tuy chưa nhiều song đã cho thấy sự phối hợp của địa phương và người dân trong việc gìn giữ và phát triển nghề tạc tượng. Làng nghề Bảo Hà đã là một địa điểm trong chương trình "Du khảo đồng quê" của du khách mỗi khi về Vĩnh Bảo tham quan khám phá du lịch làng nghề.

< Ghép gỗ tạo dáng là một trong những thế mạnh của nguời thợ Bảo Hà.

Nói về đặc trưng của tượng ở Bảo Hà, bà Nguyễn Thị Ngần cho biết, khách hàng ở khắp nơi, trong nước và nước ngoài chuộng tượng được làm ở Bảo Hà vì cái thế tượng luôn vững chãi và cân đối, mạnh mẽ về hình khối. Những đường nét trên tượng chân thật như thể đang “tạc” hồn nhân vật.

< Nước sơn thí (lớp sơn lót) luôn được người thợ thực hiện rất cẩn thận.

Với người thợ Bảo Hà, từ khi là anh phó học nghề, đến khi mắt đã quen nhìn và nhập tâm từng mẫu tượng là sự học hỏi không phải ngày một ngày hai. Quan sát họ làm chúng tôi mới thấy, ngoài sự tài hoa, khéo léo của người dân quê, họ còn có sự nhuần nhuyễn của người thợ giỏi.

< Sự tỉ mỉ của người thợ trên từng đường nét sơn son.

Khi hợp đồng vừa đưa đến, trong đầu người thợ đã hình thành được tư thế tượng; tạo dáng thế nào; kích cỡ cũng đã được áng chừng. Tuy đạt đến mức “thuận mắt quen tay” nhưng mỗi công đoạn không vì thế mà người thợ làm cẩu thả, chủ quan, trái lại rất khoa học. Ví như việc đẽo gọt từng bộ phận rồi chắp lại cho khít, hay công đoạn sơn được người thợ làm cẩn thận để tạo ra được màu “sơn son thếp vàng” bền vững qua năm tháng không bị bào mòn.

< Tượng truyền thần - một mảng sáng tạo thể hiện tài năng của người thợ Bảo Hà.

Ngoài thể hiện hình tượng có tính cổ điển khuôn mẫu, tượng truyền thần - một mảng sáng tạo nữa của nghệ nhân Bảo Hà cũng rất đặc sắc. Mỗi bức tượng được thực hiện khá chân thật, khi hóm hỉnh, khi chất phác, khi hiền hậu… Người nghệ nhân thể hiện được khí chất, tính cách của những con người bình thường trên tượng truyền thần. Điều đó càng khẳng định sự khéo léo của người thợ Bảo Hà.

< Nghệ nhân Nguyễn Văn Tuý thếp bạc trên tượng Quan Thế Âm Bồ Tát.

Giữa thanh âm đục đẽo của xưởng, tôi cứ lặng ngồi quan sát từng tốp thợ miệt mài đẽo gọt những thớ gỗ vô tri thành những “tác phẩm nghệ thuật”. Tôi đã thấy cái tài và cả cái tâm của những người “nghệ sỹ nông dân” này. Thiết nghĩ, bằng cách này người dân Bảo Hà không chỉ tự hào, trân trọng vốn quý mà ông cha để lại mà còn là sự gìn giữ thiết thực nhất đối với nghề truyền thống của quê hương.

Du lịch, GO! - Theo Thục Hiền, Trần Thanh Giang (SGTT)

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Nửa đêm đi chợ âm phủ ở Thái Bình

Chợ ma, hay chợ âm phủ, là tên gọi chỉ chợ đêm Đồng Bằng thuộc địa bàn xã An Lễ (Quỳnh Phụ, Thái Bình), buôn bán duy nhất một mặt hàng "đặc sản" là chiếu trắng dệt bằng tay.

< Cổng vào chợ chiếu đêm Đồng Bằng ngay trên mặt đường Quốc lộ 10 được mở vào lúc 0h sáng.

Chiếu cói Quỳnh Phụ (Thái Bình) từ lâu đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Thế nhưng không phải ai cũng quen thuộc với phiên chợ chiếu đêm tại đây mà người dân vẫn quen gọi là chợ ma hay chợ âm phủ.

Hình ảnh những chiếc chiếu trắng được dựng thẳng đứng, người mua kẻ bán nhập nhoạng có thể làm người yếu bóng vía toát mồ hôi.

Cư dân quanh vùng cũng đã không còn nhớ nổi cái tích lý giải cho việc chợ họp vào cái giờ oái oăm như thế. Chỉ còn biết từ nửa đêm đến rạng sáng ngày 4 và 9 hàng tháng theo âm lịch (4,9,14,19,24,29) chợ chiếu Đồng Bằng chính thức vào phiên.

< Phiên chợ đay được mở sớm hơn, một con đay nguyên liệu nặng 1,5 cân bán với giá từ 70 đến 80 nghìn đồng, có thể dệt được đôi chiếu dài 1,6m, sợi đay càng nhỏ thì càng dễ bán.

Hơn 12 giờ đêm trời tối đen như mực, ngửa lòng bàn tay còn không thấy. Không gian tĩnh lặng cộng với cái giá buốt trong đêm khiến cho người ta dễ có cảm giác rằng xã An Lễ (huyện Quỳnh Phụ) quê mùa này đang chìm sâu vào giấc ngủ.

Vậy nhưng chỉ nửa giờ đồng hồ sau, phía quốc lộ 10 bắt đầu nhộp nhịp với hàng trăm xe đạp lò dò trong bóng tối dày đặc, khó trông rõ nhân dạng. Mỗi chiếc xe chở vài đôi chiếu cói mộc hay còn gọi là chiếu trắng. Một lát sau, các lái buôn cũng xuất hiện với các ngọn đèn pin trong tay. Đó là thứ ánh sáng duy nhất từ chợ chiếu. Đúng 1 giờ sáng, cổng chợ Đồng Bằng (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ) mở toang và phiên chợ bắt đầu.

< Trước đây để xem hàng khách chỉ sử dụng chiếc đèn dầu, còn hiện nay dùng duy nhất loại đèn mỏ để soi. Kẻ mua người bán tại chợ chiếu “âm phủ” đều thích thú với cảnh giao dịch tranh tối tranh sáng vì “càng nhập nhoạng càng dễ có lợi”.

Một giờ sáng, tiếng í ới, hỏi han, chèo kéo làm khu chợ ồn ào hẳn. Duy chỉ ánh điện là không có, khiến khu chợ Đồng Bằng như một đốm sáng nhạt chập choạng trong đêm. Không ai bảo ai, phiên chợ bắt đầu là hàng trăm, hàng ngàn đôi chiếu trắng được dựng đứng lên, che mất cả người bán. Nếu không tinh mắt, người ta dễ có cảm giác những đôi chiếu này dường như “có ma” khi tự đứng được. Lúc này, các lái buôn bắt đầu len lỏi qua các cột chiếu, cầm đèn đi soi chiếu, sờ soạng và chọn mua.

< Phiên chợ chiếu đông đến hàng trăm người bán, mở vào lúc 2h sáng, theo người cao tuổi nhất trong chợ đây là tục lâu đời không ai biết rõ lý do.


Chợ Đồng Bằng thuộc xã An Lễ nhưng dân dệt chiếu đổ về các phiên chợ đêm này từ các xã An Dục, An Tràng, An Vũ, An Quý… Còn cái lái buôn thì ngoài dân Thái Bình còn có cả thương lái chiếu từ Hải Dương, Nam Định, Hải Phòng…

Chợ chiếu âm phủ Đồng Bằng nhóm 6 phiên mỗi tháng. Giữa các phiên chợ, người thợ tranh thủ dệt cho được vài ba đôi chiếu mới. Chính vì thế, mỗi khi phiên chợ bắt đầu, khi các lá chiếu mới được mở ra là mùi cói, đay đặc trưng Quỳnh Phụ cứ lan tỏa cả một khoảng không.


< Người bán dựng chiếu đứng, xếp thành những hàng thẳng, để lối đi ở giữa chờ người mua tới xem chiếu.

Điểm đặc biệt của chợ chiếu Đồng Bằng là chỉ mua bán trực tiếp giữa người dệt và người mua. Và chợ chiếu cũng chỉ bán duy nhất mặt hàng là cói và chiếu mộc dệt tay bằng cói và đay. Đay được trồng lấy vỏ, cói được cắt lên từ ruộng nước ngọt. Tất cả các giai đoạn phơi, làm cói, dệt, kết, ghim, làm trắng… đều được người thợ chọn lựa và làm kỹ càng, tỉ mỉ. Chiếu đẹp là chiếu bóng, trắng, cứng, dày và đều tay. Chiếu trắng được mua về phải qua thêm công đoạn phơi hấp và in ấn.

< Chiếu đẹp là chiếu dày, bóng, trắng cỏ (cói), cứng chiếu, dệt đều tay. Còn chiếu xấu thường dệt mỏng, ít cỏ và xanh, tùy theo đó mà định giá, có chiếu đẹp được bán với giá vài trăm, chiếu xấu vài chục cũng có.


Chiếu cói Quỳnh Phụ khi nằm cho cảm giát mát, êm mà không lạnh. Chính vì thế, khi lái buôn đi mua chiếu cói, họ thường phải săm soi và sờ để cảm nhận độ êm của chiếu. Tuy nhiên, theo ông Lớn, người dân nơi đây chủ yếu dao dịch dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau.

“Nếu người bán chiếu cố tình lừa thì người mua cũng không thể phát hiện được bởi có soi thì cũng chỉ biết phần nào thôi. Chủ yếu là thật thà với nhau. Tức người bán cũng thật mà người mua cũng thật”.


< Những tay buôn chiếu đến từ khắp mọi nơi, sau khi mua chiếu trắng về còn phải đem nhuộm màu, hấp, phơi nắng…


Người Quỳnh Phụ ăn nói nhiệt tình, quý khách và thật thà. Họ gọi khách bằng “mình”, xưng “tôi” đầy thân thiện, tử tế và mộc mạc như những lá chiếu trắng. Tại những phiên chợ chiếu, âm thanh buôn bán náo nhiệt có thể ồn ào, có thể lộn xộn, có thể chèo kéo nhưng luôn niềm nở và tràn ngập tiếng cười.
“Đi chợ chiếu thì có buồn ngủ cũng không được vì lúc ấy thì rất vui và say mê buôn bán. Thêm nửa, lúc ấy đèn pin soi chói lọi thì làm sao mà ngủ được”, ông Lớn vừa cười vừa chia sẻ.


< Tiền thu nhập từ nghề chiếu cũng là nguồn lợi đáng kể của người dân quê lúa lúc nông nhàn.

Như bất cứ một phiên chợ nào, chợ chiếu Đồng Bằng chủ yếu ồn ào vì người mua ngã giá. Trung bình, một người thợ giỏi dệt được hai lá chiếu mỗi ngày, có giá dao động ở khoảng 200 ngàn đồng, tùy vào sự khéo léo và tỉ mỉ của người thợ. Người dệt khéo còn có thể dệt cả hoa văn trên lá chiếu trắng. Trừ tiền đay, cói, người thợ có thể mang về phân nửa số tiền bán chiếu.

< Dụng cụ chiếu sáng chính ở đây là đèn pin. Khách hàng dùng đèn để kiểm tra chiếu...

Phiên chợ là lúc người bán có thể tiêu thụ sản phẩm của mình để kiếm chút vốn liếng mua vật liệu cho lần dệt tới. Đó cũng là lúc người dệt có thể chọn mua cho mình những bó cói đẹp. Và đó cũng là lúc những người đi chợ có thể trao duyên gởi tình. Đã có không ít cặp đôi bén duyên với nhau nhờ phiên chợ chiếu về đêm đặc biệt này. Dệt chiếu, bán chiếu là nghề truyền thống của nhiều xã trong huyện Quỳnh Phụ. Cho nên bất kể vào mùa nào, chợ chiếu Đồng Bằng cứ đúng hẹn lại lên.

Mấy tiếng đồng hồ chóng vánh trôi đi, đến hơn 3h sáng chợ vãn dần. Những người bán chiếu xong, mua thêm một vài cân đay vội vã về nhà tranh thủ ngủ bù để sáng thức dậy lo tiếp chuyện ngày mai. Trong chợ chỉ còn lại những người mua vừa nhẫn nại bê từng cặp chiếu chất đống lên xe vừa hỏi nhau hôm nay mua được nhiều hàng không...

Được biết, chợ "âm phủ" không chỉ là tên gọi của riêng chợ chiếu Đồng Bằng mà nó còn được đặt cho chợ An Tràng và chợ An Dục, cũng họp vào nửa đêm và cũng bán những mặt hàng như vậy. Các chợ này họp theo phiên, cách nhau 5 ngày. Nếu chợ Đồng Bằng họp vào ngày 4, ngày 9 thì chợ An Dục họp vào ngày 2, ngày 7, chợ An Tràng họp vào ngày 1, ngày 6 âm lịch). Thực tế, chiếu cói ở những vùng này từ bao đời nay nổi tiếng bền đẹp, được khách nhiều nơi ưa chuộng.

< Theo nhiều người dân, ban ngày do công việc quá bận rộn nên phải mở chợ đêm để bán.

Chợ đêm hình thành chính là đầu mối thu gom chiếu xuất bán đi khắp cả nước. Ngày nay, cho dù có nhiều loại chiếu trúc, chiếu nhựa, chiếu dệt bằng máy ra đời, nhưng nhiều người vẫn ưa dùng chiếu cói dệt bằng sợi đay bởi nằm mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát. Cũng chính vì lý do ấy mà trải qua những thăng trầm của thời gian, biến động của làng nghề, chợ chiếu "âm phủ" vẫn tồn tại và nó thực sự trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá độc đáo, ăn sâu vào tiềm thức, không thể thiếu được của người dân quê lúa Thái Bình.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Soha, Rfi, web Thái Bình...

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Hương quế Trà Bồng

Không như cư dân những vùng quế khác đã sao nhãng trồng quế khi vỏ loại cây dược liệu và hương liệu này bị tụt giá mạnh, người Cor ở Trà Bồng, Quảng Ngãi lúc nào cũng trồng quế. Thậm chí chưa lúc nào họ trồng quế nhiều như vài ba năm trở lại đây.

Từ thị trấn Trà Xuân (huyện Trà Bồng) đi theo đường liên tỉnh Trà Bồng - Trà My chừng hơn cây số đã ngửi được mùi vỏ quế từ những vựa buôn quế bên đường phả ra thơm lừng. Không còn cảnh gùi cõng, thồ chở quế bằng xe đạp, người Cor trong vùng nay đều dùng xe máy chở quế đến vựa bán.

Nhiều người buôn quế đã thuê xe tải đưa quế mua được từ những thôn làng xa khuất đến bán lại tại vựa. Bên “chợ quế” khá nhộn nhịp này là những trại ươm với hàng triệu cây quế con đến tuổi nhổ trồng.

Trồng nhiều để cải thiện cuộc sống

Mưa lâm râm, vậy mà đến giữa trưa ông Hồ Văn Sâm mới từ rẫy xa về nhà vì “phải ráng dọn xong đất để mấy hôm nữa đưa cây quế xuống”. Ngồi bên bộ bàn tươm tất trong ngôi nhà xây khang trang cạnh chân núi, người nông dân 54 tuổi này không giấu được niềm phấn chấn khi nói về việc trồng quế:

“Năm nay tui dọn đất trồng 5.000 cây, bù cho năm ngoái chỉ trồng có 2.000 cây. Tui còn phải giúp đứa con trai mới ra riêng trồng 3.000 cây nữa. Không riêng gì ở xã Trà Thủy mình, khắp Trà Bồng mấy năm nay ai cũng trồng quế nhiều”.

Sau khi đã bán hơn 2 tấn quế để có tiền thêm vào làm ngôi nhà mới hồi năm 2009, rồi các năm 2010, 2011 mỗi năm bán gần cả tấn quế, rẫy quế của ông Sâm đến nay vẫn còn khoảng 10.000 cây, trong đó phân nửa số cây đã có thể khai thác. “Tiền người Cor cất trong cây quế” - ông Sâm ví von. Cũng như hầu hết người Cor ở Trà Bồng, mỗi khi cần tiền trang trải cuộc sống là ông Sâm lại lột quế mang đến vựa bán.

Không nản lòng khi thấy giá quế xuống thấp, người Cor ở Trà Bồng luôn bền lòng với việc trồng quế. Ông Hồ Viết Mật, 59 tuổi, cho rằng dù giá quế lâu nay “nhích xuống chứ không nhích lên”, chừng năm năm nay người Trà Bồng trồng quế nhiều hơn thời trước. “Rẫy quế của tui còn khoảng 30.000 cây lớn có nhỏ có. Năm nay tui sắp trồng thêm 10.000 cây. Giá quế rẻ thì mình phải trồng thêm nhiều để có nhiều quế mà bán đặng có nhiều tiền” - ông Mật nói.

“Lập luận” của ông Mật, một trong số ít người xây được ngôi nhà ngói lớn ở vùng cao Trà Bồng hồi đầu thập niên 1990, cũng là suy tính của cư dân đất quế Trà Bồng. Đáng nói là lớp trẻ ở đây đều hăm hở với việc trồng quế. Anh Hồ Văn Chung, cư dân xã Trà Thủy, đã dọn xong rẫy để chừng vài tuần nữa là xuống đất thêm 9.000 cây quế.

Chàng trai 37 tuổi mới vừa tân gia ngôi nhà xây với khoảng 400 triệu đồng hồ hởi: “Ông cha mình dựa vô cây quế để sống, đến đời mình phải dựa vô cây quế để khá lên. Tui còn trên rẫy khoảng 15.000 cây quế 2-10 tuổi, lúc nào cần tiền là có thể lột bán lần”.

Theo ông Hồ Văn Thái - 60 tuổi, một trong những người trồng nhiều quế ở xã Trà Hiệp, người Cor thường trồng quế dày để trừ cỏ lúc đầu, sau đó tỉa dần, đến khi cây quế chừng 7-8 tuổi lại tiếp tục tỉa, những cây còn lại sau đó sẽ nhanh lớn hơn, cho sản lượng cao hơn.

Cây khoảng sáu năm tuổi thu hoạch trung bình 5-10kg quế tươi, 10 tuổi được 15-20kg, trên 20 tuổi có thể từ 25-30kg. Chỉ từ 20 năm tuổi, cây quế mới cho hạt giống ổn định hằng năm.

Thêm niềm tin từ thương hiệu

Lượng quế trồng của cư dân Trà Bồng tăng mạnh mấy năm nay ngoài nỗ lực của cư dân còn có phần hỗ trợ của Nhà nước. Ông Võ Sĩ Phi, chuyên viên Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Trà Bồng, cho biết: “Nhờ lồng ghép hỗ trợ từ các chương trình 135, 30A, mấy năm nay huyện đã cấp cây quế giống cho các hộ nghèo trồng, hộ ít nhất cũng nhận được 2.000 cây/vụ trồng (năm). Sự hỗ trợ không chỉ giúp người nghèo mà còn tạo khí thế cho việc trồng quế tại địa phương. Ngoài trồng cây keo, ai ở đây giờ cũng nỗ lực trồng thêm cây quế”.

Ngoài cây quế giống được cấp, nhiều hộ nghèo còn tự ươm hay bỏ tiền mua thêm quế giống trồng hằng năm để mong sớm thoát khỏi nghèo khó. Dù trồng nhiều nhưng ai cũng cất công làm cỏ dọn cành đều cho rẫy quế mỗi năm hai lần, giữ gốc quế sạch cỏ sạch cành để chúng mau lớn, ngăn trừ sâu bệnh.

Sản lượng quế Trà Bồng tăng đã kích thích thị trường tiêu thụ, tạo thành một vòng phát triển: các doanh nghiệp mua, chế biến quế tại địa phương làm ăn có lãi đã mở rộng việc kinh doanh quế, qua đó tác động tích cực đến việc trồng quế của cư dân.

“Mấy năm nay mỗi năm tui mua được chừng 800 tấn quế khô, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của bạn hàng bên ngoài. Có được đầu ra ổn định, thông thoáng cũng là nhờ mình có nguồn quế thường xuyên bán ra để bạn hàng tin cậy. Được vậy cũng là nhờ bà con ở đây dốc lòng trồng quế, không làm theo kiểu “móng đâu câu đó”, tức chỉ trồng quế khi thấy quế cao giá” - ông Nguyễn Đức Lương, chủ doanh nghiệp Lương Hạ có sản xuất thêm hàng thủ công mỹ nghệ từ vỏ quế, cho biết.

Thêm niềm tin cho những người đã hết lòng với loại cây trồng được cha ông lưu lại, từng làm cho quê xứ mình nổi tiếng với chúng: quế Trà Bồng (cùng với quế Tây Trà) đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và công nghệ) cấp chứng nhận thương hiệu hồi tháng 6-2009. “Ít lâu sau ngày quế Trà Bồng (và Tây Trà) được Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định công nhận thương hiệu, doanh nghiệp từ các nơi, nhất là ở TP.HCM, tìm đến đặt mua, đưa giá quế lúc đó từ mức 15.000 đồng/kg tăng lên 25.000 đồng/kg” - kỹ sư Đinh Hồng Doanh, trưởng Phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Trà Bồng, cho biết.

Chủ doanh nghiệp Lương Hạ cũng nhìn nhận từ ngày quế Trà Bồng có thương hiệu, việc kinh doanh của các doanh nghiệp quế tại địa phương thuận lợi hơn. “Có thương hiệu quế Trà Bồng dán lên, bạn hàng trong nước, ngoài nước biết đến mình nhiều hơn, niềm tin của họ ở sản phẩm của mình cũng tăng. Phần mình cũng phải cố gắng bảo đảm chất lượng sản phẩm” - ông Lương nói.

Cũng thế, những người Cor nối đời với cây quế cũng phấn khởi, tin tưởng nhiều hơn ở việc trồng quế. “Giờ mới thấy cây quế ông cha để giống lại cho mình là quý. Tui chỉ lột ba cây quế bảy năm tuổi được 35kg quế tươi, bán mỗi ký được 9.000 đồng, cũng có để chi tiêu khi cần. Quế giờ không thể cao giá như thời trước nhưng trồng nhiều sẽ giúp mình thoát nghèo, khá lên thôi” - anh Hồ Văn Nhân, 32 tuổi, xã Trà Hiệp, nói bên xe quế anh chở đến vựa bán.

Trà bồng là một trong năm huyện miền núi, nằm về hướng Tây Bắc của tỉnh ta với diện tích gần 700 km² và trên 40.000 dân số gồm 18.000 dân tộc Kinh và trên 22.000 các dân tộc ít người.

Du lịch, GO! - Theo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, internet