Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

Chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng

Chùa Ông Bổn còn có tên gọi là chùa A Côn, hay Hòa An Hội Quán là một ngôi chùa cổ có tuổi đời trên 130 năm, tọa lạc số 09, đường Nguyễn Văn Trỗi, khóm 1, phường 1, TP Sóc Trăng. Đây là một di tích nghệ thuật kiến trúc - điêu khắc văn hóa độc đáo của cộng đồng người Hoa ở Sóc Trăng nói riêng và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Theo tài liệu của Ban quản trị chùa thì vào năm 1875, chùa Ông Bổn được xây dựng tại làng Khánh Hưng, tổng Nhiêu Khánh, tỉnh Sóc Trăng. Đến năm 1911 được trùng tu lần thứ nhất và đổi tên là Hòa An Hội Quán cho đến nay. Qua 7 lần trùng tu vào các năm 1953, 1969, 1987, 1990, 1994, 1999 có kiến tạo gia cố thêm, nhưng vẫn đảm bảo được hiện trạng cũ nên ngôi chùa mới khang trang như ngày nay.

Do chùa nằm trong trung tâm của tỉnh lỵ nên rất thuận tiện cho việc cúng bái, cũng như rất thuận lợi cho du khách đến tham quan dù bằng đường bộ hay đường thủy.

Chùa được cất theo hình chữ Phú - tượng trưng cho sự ấm no, phú quý. Chùa cất tuy không cao nhưng thoáng đãng, mang đậm màu sắc kiến trúc Trung Hoa. Sân chùa tuy không lớn nhưng sạch sẽ. Mái chùa lợp ngói ống phủ lớp rêu phong. Trên mái nóc có tượng lưỡng long chầu nguyệt - cách trang trí truyền thống trong các ngôi chùa Hoa. Trên các gờ mái cũng có tượng rồng, kỳ lân nằm trải dài. Phía trước mái hiên chùa có treo một dãy đèn lồng đỏ càng làm tôn vinh thêm vẻ đẹp rực rỡ của ngôi chùa.

Chùa Ông Bổn được xây dựng với chất liệu hoàn toàn bằng đá, gỗ quý từ Trung Quốc chở qua. Ngôi chùa có mặt tiền chính diện hướng về hướng Nam, hai bên tả hữu tô đá rửa được nghệ nhân đắp nổi bằng xi măng rộng khoảng một thước là hai đại tự Tăng Phước - ngụ ý chúc bà con bá tánh hưởng thêm nhiều phước lộc, tạo thêm vẻ bề thế cho ngôi chùa. Ngoài ra, ở bên hữu khuôn viên chùa còn có ngôi miếu nhỏ thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh tượng trưng cho thần thổ địa của địa phương.

Quan sát từ đỉnh hương lớn đặt giữa khuôn viên khá rộng của ngôi chùa, tổng thể kiến trúc di tích này có toàn bộ phần chân cột, đá xanh viền nền tam cấp trong khu vực nội thất đến khung cửa chính của ngôi chùa... đều được các nghệ nhân người Hoa đời trước tạc bằng đá tảng của Trung Quốc. Ngôi chùa được thợ xây dựng theo dạng phân kim tam cấp qua thước Lỗ Ban - theo hình chữ Phú - tượng trưng theo quan niệm của người Hoa.

Vào bên trong ngôi chùa, du khách sẽ choáng ngợp trước một “rừng” hoành phi câu đối bằng chữ Hán được treo và ốp cột từ gian tiền điện đến gian chính điện, với nội dung ca ngợi công đức của các vị thần. Phía bên trái (nhìn từ ngoài vào) là bàn thờ Bạch Hổ uy nghi, bên phải là bàn thờ của Thanh Long hùng dũng - đây vừa là yếu tố phong thủy, lại vừa là vật linh nhằm để trấn giữ tà ma, xua đi những điều xui xẻo, không hên. Gian chính điện gồm ba gian. Gian chính giữa thờ Trịnh Ân, tức Cảm thiên đại đế là vị phúc thần trong tâm thức của bà con người Hoa nơi đây.

Khác biệt với chùa Ông Bổn (Thanh Minh Cổ Miếu) tại thị xã Vĩnh Châu thờ ông Trịnh Hòa - vị quan triều Minh (thế kỷ 14, tương truyền ông là nhà hàng hải đã bôn ba buôn bán sản vật ở nhiều nước trên thế giới, ông được phong sắc thần “Bổn đầu công” được dân chúng sùng kính tôn thờ) thì chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng thờ ông Trịnh Ân.

Tương truyền, Trịnh Ân là vị khai quốc công thần, văn võ song toàn, sống vào triều đại nhà Tống bên Trung Quốc. Ông có nhiều công lớn trong việc dạy dân bền chí làm ăn để khẩn hoang, lập ấp và khuyên mọi người phải biết giữ lễ nghĩa, giữ vẹn thuần phong mỹ tục. Do bị gian thần hãm hại nên ông bị triều đình khép vào tội chết. Lúc xử trảm ông, đất trời cảm động trút cơn mưa, điểm vần sắc hồng. Dân chúng thấy điềm trời như thế nên càng tỏ lòng thương tiếc và lập miếu thờ ông làm vị phúc thần. Chuyện này lan đến triều đình, làm vua tỉnh ngộ, thương cảm và phong sắc cho ông là Cảm thiên đại đế, tức lòng trung cảm động đến trời.

Bên trái gian chính điện là bàn thờ của Phúc Đức Chính Thần, bên phải là trang thờ của Thiên Hậu Thánh Mẫu. Trước gian chính điện còn có hai hàng bát bửu hai bên. Đặc biệt nét điêu khắc trong chùa đã đạt đến mức điêu luyện, thể hiện được nét tinh xảo, tài hoa của các nghệ nhân Trung Quốc đời trước. Tiêu biểu, các bức điêu khắc gỗ, hoành phi chạm trổ ba lớp, tượng thờ bằng gỗ, câu đối bằng gỗ quý, các tượng gỗ chạm trổ các linh vật: long, lân, quy, phụng, nai, hạc... đều thể hiện các điển tích cao quý mà các vua chúa ngày xưa thường dùng trang trí trong cung đình, như: lân hóa rồng, rồng hóa long dây lá, Bá Ngư chầu hoàng, Bá Ngư Điểu Chích... tất cả đều là các tác phẩm điêu khắc, hội họa đặc biệt quý hiếm thể hiện đúng theo khuôn mẫu bên Trung Quốc.

Ngoài ra, trong chùa còn có nhiều cổ vật quý hiếm khác là tượng gỗ thờ Ông Bổn, Ông Phước Đức, Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, sơn son thiếp vàng rực rỡ; bộ lư quỳ cổ hình thái tuế, ba bộ lư vuông, cặp hạc rùa ngậm hoa sen bằng kim loại màu... các bộ bàn thờ (quý tự) bằng gỗ quý đều được các nghệ nhân chạm khắc ba lớp và dát vàng rất tinh xảo.

Chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa ở đây, mà còn là nơi thu hút đông đảo bà con người Kinh, người Khmer cũng như khách thập phương đến đây tham quan cúng bái trong các dịp rằm, lễ tết, ngày vía Ông...

Bên cạnh đó, chùa Ông Bổn còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội đặc sắc của bà con người Hoa và thông qua đó đã tập hợp, đoàn kết mọi người cùng nhau đóng góp, gây quỹ làm công tác từ thiện... thể hiện truyền thống đoàn kết lâu đời của bà con người Hoa và các dân tộc Kinh, Khmer anh em.
Với những ý nghĩa trên, ngày 3-6-2004, chùa Ông Bổn đã được UBND tỉnh Sóc Trăng xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Du lịch, GO! - Theo Trần Kiều Quang (báo Hậu Giang), ảnh sưu tầm từ internet

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Tổ đình của hệ phái Phật giáo Khất sĩ

Pháp viện Minh Đăng Quang tọa lạc tại số 505 xa lộ Hà Nội, phường An Phú, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh. Tổng diện tích chùa khoảng 27.500m².
Đây là tổ đình của toàn hệ phái Phật giáo Khất sĩ, được Hòa thượng Thích Giác Nhiên - một trong những đại đệ tử của Tổ sư Minh Đăng Quang cùng chư tôn đức Tăng trong Giáo đoàn IV kiến lập vào năm 1968 với mục đích xây dựng thành trung tâm hoằng pháp của hệ phái.

Các hạng mục lúc bấy giờ chỉ là chánh điện, nhà thờ cửu huyền, am cốc của chư Tăng được xây cất tạm bằng vật liệu nhẹ. Pháp viện đã được trùng tu qua các đời trụ trì tiền nhiệm: Hòa thượng Thích Giác Phúc, Thượng tọa Thích Giác Khoa, Trưởng lão Thích Giác Huyền.

Hiện nay, Hòa thượng viện chủ Thích Giác Phúc là Phó Trưởng ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng trụ trì Thích Giác Lai là Chứng minh Ban Đại diện Phật giáo Quận 2, Thượng tọa Thích Minh Hóa là Thư ký Ban Đại diện Phật giáo Quận 2.

Pháp viện có tôn trí hai pho tượng bằng đá cẩm thạch là tượng đức Phật Thích Ca thiền định trên tòa sen cao 4,2m và tượng Tổ sư Minh Đăng Quang. Trước chánh điện có đặt tượng Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Di Lặc lộ thiên.

Tháng 4 năm Bính Tuất (2006), nhân mùa Phật đản PL.2550, lễ đặt đá khởi công đại trùng tu Pháp viện Minh Đăng Quang diễn ra trọng thể với sự chứng minh, tham dự của hàng ngàn chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử, nhưng mãi đến ngày 28/2/2009 (thượng tuần tháng 2 năm Kỷ Sửu) công trình mới chính thức được khởi công xây dựng.

Với rất nhiều tâm huyết và nỗ lực của Tăng tín đồ trong hệ phái, ngày 15/11/2011, tầng 3 đã được đổ bê tông với diện tích sàn 2.934m²; các tầng dưới như tầng hầm, giảng đường và thiền đường đang được xây ngăn tường vách và tô tường trần. Theo kế hoạch, trong năm 2012 tiếp tục xây chánh điện thờ Phật theo mô hình truyền thống; đồng thời việc xây, tô, đổ bê-tông mái hiên các tầng dưới sẽ được hoàn tất vào cuối năm 2012.

Theo mô hình tổng thể, có 4 ngôi tháp án ngữ tại 4 góc của chánh điện. Hai tháp phía trước hình bát giác gồm 9 tầng, cao 37m, hai tháp phía sau hình tứ giác, 13 tầng, cao 49m. Ngôi chùa chính gòm 3 tầng cao 22m gồm: chánh điện (dài 80m, rộng 40m), giảng đường và thiền đường. Pho tượng đức Phật Thích Ca bằng đồng cao 36m được tôn trí trên ngôi chùa.

Sân trước chùa tôn trí tượng Bồ tát Di Lặc bằng đồng cao 4,2 m và tượng Bồ tát Quan Âm bằng đồng cao 8,6m. Sân sau chùa là tăng xá 12 tầng và Tuệ Tỉnh đường.

TT. Thích Minh Hóa - phụ trách giám sát thi công cho biết, công trình sẽ hoàn thành phần cơ bản vào cuối năm 2013 để kịp tổ chức Đại lễ tưởng niệm 60 năm Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng (mùng 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ 1954 - 2014).

Cũng theo chư tôn giáo phẩm Ban Thường trực Hệ phái, sau khi hoàn thành đại trùng tu công trình, một trạm cấp cứu 24/24 giờ mang màu sắc Phật giáo có thể sẽ được thiết lập tại đây. Điều này sẽ là một lợi thế trong điều kiện vận dụng và phát triển tâm Từ của người con Phật, đồng thời tạo sự an tâm cho hành khách xuôi Nam ngược Bắc mỗi ngày xuyên qua trục lộ huyết mạch của đất nước.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ NTO và nhiều nguồn khác

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Phủ Đột - Điểm du lịch hấp dẫn của Ninh Bình

Đền Phủ Đột là điểm di tích nằm trong Khu du lịch sinh thái Tràng An. Tràng An chính là kinh đô Hoa Lư của triều Đinh và Tiền Lê xưa. Nhìn từ trên có thể thấy đó là một mê cung các dải núi đá vôi.

Với những vùng ngập nước mênh mông, các hang xuyên sơn trở thành xuyên thủy lộ. Toàn khu vực có đến cả trăm hang động, trong đó gần 50 hang có thể thành lối đi xuyên núi bằng thuyền, đi quanh co vòng vèo mất vài ngày. Từ bến chính, mất chừng 2-4 giờ để đến nơi tuỳ thuộc vào thời gian ghé chơi lên các núi.

Xuống thuyền ở bến Sào Khê, giá vé đi thuyền là 60 nghìn/người. Bến Sào Khê nằm gần một quả núi, có một con dốc rất cao, tên là dốc Quy Linh, bên trái có ngôi đền Phủ Đột, dòng nước uốn lượn chảy vào trong núi, và đường về sẽ vòng về dòng nước xa tận cùng bên phải.

Đền Phủ Đột là nơi thờ hai vị tướng của Triều đình là Nhị vị Thánh Tiền gồm Tả Thanh Trù và Hữu Thanh Trù - hai vị tướng được cử trông coi khu vực phía Đông nam kinh thành Hoa Lư.

Khi trong triều xảy ra loạn, vua Đinh Tiên Hoàng và con trai trưởng Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết hại, hai ông đã đưa ấu chúa Đinh Toàn (mới 6 tuổi) đi trốn rồi cùng các vị quan trong triều truy bắt khép tội Đỗ Thích.

Khi Thái hậu Dương Vân Nga trao mũ áo long bào cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, hai ông đã không khuất phục và tuẫn tiết tại khu vực này, nhân dân đã xây dựng ngôi Phủ bên sườn núi để thờ hai ông.

Năm 2010, nhân dân địa phương đã xây dựng thêm ở đây một đơn nguyên kiến trúc thờ “Tứ trụ triều đình” của Nhà Đinh là Định quốc công Nguyễn Bặc, Thái sư Trịnh Tú, Đại tư đồ Đinh Điền, Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ.

Đền được xây dựng bên cạnh Phủ, về phía Đông nam, gồm 2 tòa: Tiền bái và hậu cung. Tòa hậu cung có tượng thờ “Tứ trụ triều đình” của nhà Đinh.
Đây là một nơi không thể bỏ sót khi du lịch đến Tràng An.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Chùa Vĩnh Nghiêm (Đức La) - Bắc Giang.

Tam quan chùa Đức La - Vĩnh Nghiêm.
"Thứ nhất là chùa Đức La, thứ nhì chùa Bổ, thứ ba chùa Tràng" - Chùa Đức La (hay còn được gọi là Vĩnh Nghiêm Tự) ngụ tại thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng; cách Thành phố Bắc Giang 23km về phía Đông Nam. Chùa toạ lạc trên một đối thấp phía sau núi Cô Tiên, nhìn ra ngã ba Phượng Nhỡn là nơi hợp lưu của sông Thương và sông Lục Nam, phía trước và sau chùa là dãy núi Nham Biền và Huyền Đinh án ngữ.

Chùa Đức La là trung tâm phật giáo lớn từ thời Trần, lịch sử của chùa Đức La gắn liền với vị vua Trần Nhân Tông, là nơi đào tạo các tăng ni phật tử trong cả nước. Chùa từng là nơi thuyết pháp của Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang) và là nơi đào tạo, định chức danh các tăng sĩ thời Trần.

Ca dao cổ có câu: Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm - Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành. Kiến trúc chùa ngày nay khá bề thế với diện tích khoảng 10.000 mét vuông gồm tam quan, chùa Hộ, nhà thiêu hương, chùa Phật, nhà tổ, gác chuông hai tầng mái và nhà trai.

Kiến trúc chính của chùa nằm trên một trục dọc, hướng đông nam gồm 4 khối lớn: Khối thứ nhất gồm 3 nếp chùa hộ, thiêu hương và chùa Phật liên kết với nhau trong một khối kiến trúc kiểu chữ công với thiết kế khang trang to lớn kiểu tàu đao lá mái với 4 đao cong, có 8 vì kèo, kiểu chồng rường, thượng tam hạ tứ, nghệ thuật đơn giản.

Khối kiến trúc thứ hai cũng làm theo kiểu chữ công nhưng thấp và nhỏ hơn gọi là nhà tổ đệ nhất có kiến trúc đơn giản nhưng vẫn còn dấu vết của trang trí thời Lê. Khối thứ ba là gác chuông cao 2 tầng mái và khối thứ tư là nhà tổ đệ nhị, kết cấu kiểu chuôi vồ.

Dù trải qua nhiều thế kỷ đầy biến động nhưng đến nay, chùa Vĩnh Nghiêm vẫn là nơi tàng lưu một lượng di sản văn hóa quý giá của dân tộc Việt Nam bao gồm: hệ thống tượng thờ gồm trên 100 pho, hệ thống văn bia (8 bia) cơ bản được soạn khắc ở giai đoạn Lê-Nguyễn (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) ghi lại toàn bộ lịch sử phát triển của Phật giáo Vĩnh Nghiêm, hệ thống hoành phi-câu đối, đồ thờ…

< Mộc bản khắc kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm.

Đặc biệt là kho mộc bản kinh Phật và những thư tịch khác do thiền sư Thiền phái Trúc Lâm tổ chức san khắc ở nhiều giai đoạn khác nhau gồm hai kệ lớn ván in Hoa Nghiêm kinh, Giới ni kinh, sa di kinh...

Di sản này không chỉ là báu vật của đất nước mà còn là tài sản văn hóa chung của nhân loại. Nội dung của kho mộc bản là chiếc chìa khóa vạn năng để nghiên cứu về nhiều mặt trong đời sống xã hội. Tiêu biểu có tư tưởng triết học, nhân văn của người phương Đông suốt từ những năm đầu thế kỷ XIII đến nay.

< Tượng cổ Tam Thế Phật.

Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) cho biết chùa có từ thời Lý, được xây dựng qui mô, sau bị binh hỏa đổ nát. Địch Vũ Hầu Nguyễn Thọ Cường hưng công tu sửa chùa vào năm 1606. Đến đầu thời Nguyễn, chùa lại được đại trùng tu: tượng Phật, tượng 3 vị Trúc Lâm Tam Tổ là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang cùng nhiều bức chạm khắc có giá trị nghệ thuật được sáng tác trong lần trùng tu này.

Hơn 7 thế kỷ trôi qua, chùa Đức La vẫn là một trung tâm Phật giáo lớn, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước. Nhiều kệ ván in kinh vẫn còn, là hiện vật minh chứng cho vai trò quan trọng của chùa, từng thống lãnh 72 chốn tùng lâm. Đến nay chùa Đức La vẫn mãi là chốn tổ, là điểm cho du khách đến tham quan vãng cảnh, thắp hương lễ phật.

< Hát quan họ trước chùa.

Lễ hội chùa La được tổ chức vào ngày 14 tháng 2 âm lịch hàng năm. Đây là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu ở huyện Yên Dũng nói riêng và của tỉnh Bắc Giang nói chung. Lễ hội chùa La thu hút đông đảo khách thập phương về dự. Với những giá trị nổi bật đó, năm 1964 chùa Đức La được Nhà nước xếp hạng là di tích Lịch sử -Văn hoá cấp quốc gia.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Đình Chu Quyến: kiến trúc đặc sắc xứ Đoài

Từ xa xưa, dân gian ta đã có câu ca ”cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài” để ngợi ca vẻ đặc sắc, sự tinh tế, độc đáo trong từng những nét kiến trúc của những ngôi đình ở vùng đất xứ Đoài (Hà Nội).

< Đình Chu Quyến năm 2006, trước khi được tu bổ tôn tạo.

Đình Chu Quyến, thuộc xã Chu Minh, huyện Ba Vì - một ngôi đình cổ được xây dựng từ thế kỷ 17 chính là một ngôi đình tiêu biểu, góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa cho vùng đất thiêng Ba Vì và Thủ đô Hà Nội ở độ tuổi nghìn năm hôm nay.

< Đình Chu Quyến sau khi trùng tu, tôn tạo, vẫn giữ được nét đẹp cổ xưa.

Đình Chu Quyến thờ thành hoàng làng là Nhã Lang Vương - con của Hậu Lý Nam Đế Phật tử. Đình thường được người dân ở đây gọi là đình Chàng vì xưa đình vốn thuộc làng Chu Chàng, xã Châu Chàng, tổng Châu Chàng, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Đình nhìn về hướng Tây Bắc, phía trước có hồ nước rộng. Đình thuộc công trình tiêu biểu cho kiến trúc gỗ của người Việt về quy mô, vật liệu sử dụng, sự kết hợp tài tình, hiệu quả giữa điêu khắc và kiến trúc.

< Đình Chu Quyến có kết cấu khung gỗ chồng rường với đầy đủ sáu hàng cột, đối xứng nhau qua trục dọc nhà.

Được mệnh danh là ngôi đình lớn nhất xứ Đoài, đình Chu Quyến nằm ở địa thế rất đẹp thuộc địa phận làng Chu Quyến - ngôi làng hiền hòa ven đê sông Hồng, phía xa xa là đỉnh núi BaVì hùng vĩ. Đình được thiết kế chỉ gồm một tòa đại đình trông rất sừng sững và bề thế gồm hai gian, ba chái, không có một công trình phụ trợ, bổ sung nào.

Như hầu hết các ngôi đình cổ xứ Đoài, đình Chu Quyến có bộ mái đình xòe rộng ra bốn phía, chiếm tới hơn 3/4 toàn thể ngôi đình nhưng lại lan rộng xuống thấp nên càng làm tăng thêm vẻ vững chãi, bề thế của ngôi đình. Bù lại, các đầu đao của mái đều được uốn cong làm cho ngôi đình trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát và duyên dáng gấp bội phần. Mái đình xoà rộng lan xuống thấp tạo vẻ bề thế, vững chãi, các đầu đao vút cong lên làm toàn bộ ngôi đình nhẹ nhàng, thanh thoát. Mái lợp ngói ta, bờ nóc gắn hai hàng gạch, tường rộng và dày.

< Đình Chu Quyến là công trình tiêu biểu cho kiến trúc gỗ dân gian truyền thống của Việt Nam.

Đình Chu Quyến là một ngôi đình cổ hiếm hoi có nhiều tác phẩm trang trí đặc sắc được thể hiện cả trên đất nung và trên gỗ. Ông Bạch Công Tiến - Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Ba Vì cho biết, rất nhiều đoàn chuyên gia, nhà nghiên cứu văn hóa đã đến tham quan, tìm hiểu về giá trị của ngôi đình cổ này và đều khẳng định: Những con giống làm bằng đất nung được trang trí trên hai đầu nóc, đầu đao của đình là rất tuyệt vời. Hình ảnh mây lửa mềm mại, hình tượng con lân, đầu rồng mắt to, trợn tròn, miệng há rộng hướng về các đao lửa trên bờ guột của đình thể hiện tài năng sáng tạo cao độ của người Việt xưa.

< Trang trí rồng trên đầu dư đỡ câu đầu.

Bước vào tham quan đình, người xem cũng dễ dàng nhận thấy, các cột ở ngôi đình này đều rất to, chắc chắn; đặc biệt chiếc cột cái có chu vi tới hơn 2,4m. Vì thế mà người dân trong vùng từ lâu thường có câu ví quen thuộc: To như cột đình Chàng.

< Hình tường điêu khắc đầu rồng đỡ cột sắc sảo.

Các tác phẩm được chạm khắc bằng gỗ trong đình cũng hết sức cầu kỳ, tinh xảo và độc đáo. Những đề tài, khung cảnh vốn quen thuộc hàng ngày trong đời sống của người cư dân nông nghiệp như cảnh làm ruộng, chọi gà, người đánh đàn, người cưỡi hổ, người dắt voi, múa hát… được tái hiện hết sức đặc sắc, sống động.

Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng: Các hình chạm trang trí được người nghệ sỹ dựng đình Chu Quyến bố trí hết sức cầu kỳ với những mảng chạm nông, bố cục đăng đối xen với kỹ thuật chạm "lộng,” chạm “kênh” tạo ra nhiều lớp hình khối phong phú tạo sự tương quan về khoảng cách và ánh sáng rất vừa phải, hợp lý.

< Những cột cái ở gian chính điện đình Chu Quyến đều được làm bằng gỗ lim, một số cột có đường kính lên tới 80cm.

Giá trị văn hóa lịch sử của đình Chu Quyến còn được thể hiện ở những thần tích và một số di vật cổ, đặc biệt là những đạo sắc phong của các triều Lê Trung Hưng, Tây Sơn và triều Nguyễn phong thần cho Nhã Lang Vương còn được lưu giữ đến tận ngày nay.

Hàng năm cứ vào ngày 13-15 tháng Giêng, người dân địa phương lại mở lễ hội tại đình để tưởng nhớ công đức của thành hoàng làng Nhã Lang Vương. Ngoài các nghi thức tưởng nhớ thành kính, tại lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như đánh cờ, vật dân tộc, ca hát thu hút đông đảo người dân trong vùng tham gia.

< Các tác phẩm chạm khắc gỗ trong đình Chu Quyến hết sức cầu kì, tinh xảo và độc đáo.

Với những giá trị độc đáo trong nghệ thuật kiến trúc và lịch sử văn hóa, từ năm 1962, đình đã được Bộ Văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch) xếp hạng là một trong những di tích văn hóa lịch sử đặc biệt quan trọng của Quốc gia.

Do xây dựng hàng trăm năm nay, mối mọt làm hư hỏng nặng nên từ năm 2007, đình Chu Quyến được  trùng tu, tôn tạo theo “Dự án thực nghiệm tu bổ tôn tạo đình Chu Quyến”.

< Đình Chu Quyến được trùng tu trên cơ sở áp dụng kỹ thuật tân tiến nhưng không xa rời yếu tố gốc.

Nội dung bảo tồn rất tỉ mỉ, trong đó xác định chính xác những tác nhân gây hại để loại bỏ hoặc giảm thiểu tác nhân gây ảnh hưởng tới di tích. Kết hợp sử dụng vật liệu, công nghệ truyền thống với vật liệu, kỹ thuật, công nghệ mới để tăng độ bền vững, sự ổn định lâu dài của di tích, trên cơ sở bảo tồn tối đa các thành phần nguyên gốc cùng giá trị lịch sử, văn hóa của di tích. Đồng thời, cải thiện môi trường, phục hồi, tôn tạo khung cảnh tổng thể công trình, tương ứng với đặc điểm của di tích.

Công trình sau khi hoàn thành đã được Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế (UIA) trao giải thưởng về bảo tồn di sản kiến trúc năm 2010 khu vực Châu Á và Châu Đại Dương, ghi nhận thành công trong công tác trùng tu, tôn tạo, trên cơ sở sử dụng kĩ thuật tiên tiến nhưng không xa rời yếu tố gốc, vẫn thể hiện được nét đẹp cổ xưa của ngôi đình hơn 400 năm tuổi.

Với mỗi người dân Chu Minh, ngôi đình cổ Chu Quyến đã cho họ niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương thân thương, gắn bó tự thủa ấu thơ. Bởi lẽ, ngôi đình không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của họ mà còn là địa điểm diễn ra nhiều hoạt động văn hóa- xã hội của cả cộng đồng làng xã, đúng như chắc năng quen thuộc mỗi ngôi đình làng Việt tự bao đời.

Còn với những du khách phương xa, có dịp đi qua vùng đất thiêng Ba Vì với núi Tản sông Đà hùng vĩ, không thể bỏ qua di tích văn hóa nghệ thuật đình Chu Quyến - một công trình kiến trúc đặc sắc.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Nuibavi, Vnanet và nhiều nguồn khác

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Di tích đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - Đồng Nai

Từ thành phố Biên Hòa theo hướng quốc lộ 1 qua cầu Rạch Cát, rẽ vào bên trái khoảng 200 mét là đến đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Đền tọa lạc trên một khu đất rộng, bên tả của nhánh sông Đồng Nai ôm trọn Cù lao phố (thuộc xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa).

Ngôi đền được xây dựng năm nào, ngày nào chưa có tài liệu nào đề cập cụ thể. Sách gia định thành thông chi có ghi: “… Ở phía Nam Cù lao phố, thôn Bình Hoành, huyện Phước Chánh, thờ khai quốc công thần Tráng Hoàn hầu Nguyễn Hữu Cảnh .Đền trông ra sông Phước Giang, lấy đá ngầm làm làm thủy thành, dưới có cá chép lạ, lớn 6,7 thước, cứ đêm khuya tĩnh mịch, thường hướng vào đền, quãy nhảy dưới sông bơi lội ngược xuôi, như hình múa lạy. Sau qua trào Tây Sơn, hương tàn khói lạnh”.

Đến đời Trung Hưng, cấp 10 người từ phu, hàng năm cho tiền công tế vào mùa xuân, cầu đảo thường linh ứng; năm Tự Đức thứ 4, quan tỉnh tâu rằng đền lâu ngày mục nát, lại bị nước xói, phụng mệnh lấy cho 400 quan tiền giao dân sở tại mua vật liệu, dựng lại đền ở sau cách 10 trượng…”

Năm 1851, đền được xây lại cách vị trí cũ khoảng 400m. Hơn 100 năm sau đền được tu sửa bao nhiêu lần không rõ. Năm 1960 Ban quý tế đền đứng ra chủ trì việc trùng tu. Trước chánh điện mở thêm hành lang rộng 2 mét, các cột chính được đắp rồng, các cửa gỗ được thay bằng cửa sắt kéo, mái lợp ngói âm dương thay cho loại vảy cá trước đây. Kiến trúc hiện tồn của di tích thuộc vào niên đại này, lối kiến trúc tương đối hiện đại, các nét xưa còn lại ít, có chăng là nội thất trong các trang trí hoa văn, đồ thờ.

Ngôi đền được xây dựng theo dạng chữ điền (J) mặt tiền hướng ra sông Đồng Nai, phía Tây Nam. Chánh điện đền hình vuông, tường gạch trát đá rửa, bốn mái lợp ngói lá vảy cá, nền lát gạch tàu, phía trước mái đều gắn đôi rồng chầu pháp lam bằng gốm men xanh, đối xứng hai bên là cặp lân. Từ ngoài theo lối chính có 3 cửa. Hai cửa khắc chìm hàng chữ Hán với nội dung nói về đền thờ Bình Kính, công lao của Nguyễn Hữu Cảnh đối với vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.

Nội điện có ba hàng cột gõ lớn. Trên các cột đều treo liễn đối. Các hoành phi thể hiện dưới dạng đại tự chữ Hán, liễn đối được trang trí hoa văn sơn son thiếp vàng vẫn giữ tươi màu dù trải qua nhiều năm tháng. Dưới những hoành phi là những bao lam gỗ được chạm trổ các đề tài lưỡng long chầu nhật, hoa chim sơn kim nhũ óng ánh. Gian giữa chánh điện thờ thấn, hai bên thờ tả ban, hữu ban liệt vị. Một góc bên bàn thờ trong tủ kiếng còn lưu giữ bộ áo mão tương truyền là của đức ông Nguyễn Hữu Cảnh thưở sinh thời. Trước bàn thờ thần là bàn thờ la liệt, bàn thờ hội đồng, xung quanh đắp nổi bộ tứ linh và ở trên có đôi hạc và lưỡng long, gian giữa bày hai hàng bát bửu bằng đồng. Dọc theo bờ tường hai bên có bồn bệ xi măng thờ các bậc tiền nhân, hậu hiền, thế hiền và thánh mẫu.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh là một trong số ít di tích ở Biên Hòa còn lưu giữ được sắc thần, trong đó ghi rõ họ tên, chức tước vinh hiển, thứ bậc thượng đẳng thần của vua ban phong cho Nguyễn Hữu Cảnh. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ ngày 25 tháng 3 năm 1991.

Hàng năm, tại đền, nhân dân địa phương tổ chức hai lần lễ tế (tính theo âm lịch) vào các ngày 16 tháng 5 và 11 tháng 11, cầu cho quốc thái dân an và tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân có công mở mang vùng đất phương nam của tổ quốc. Năm 1998, kỷ niệm 300 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai (1698 - 1998) Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đã xây dựng nhà bia trong khuôn viên di tích đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Nhằm lưu truyền công đức của các bậc tiền nhân đã có công khai phá, bảo vệ, kiến tạo và xây dựng Đồng Nai với quá khứ hào hùng của ông cha, của truyền thống hào khí Đồng Nai.

Du lịch, GO! - Theo Tin tức Du lịch, ảnh sưu tầm

Nhà thờ Chánh tòa Bà Rịa - Vũng Tàu

Ngôi nhà thờ đầu tiên của Họ Đạo được dựng lên bên cạnh bờ sông Dinh, gần chợ cũ, trong khu vực các công sở hành chánh quận lỵ Phước Tuy.

< Nhà thờ Chánh tòa Bà Rịa.

Vào năm 1865, Cha Errard đến nhậm sở Bà Rịa. Cha xây huyệt mộ chôn cất các vị tử đạo ngay trên chính nền ngục thất trước đây và dựng một ngôi nhà nguyện cho đến nay vẫn được gọi là “Nhà Thờ Mồ”. Cha cũng dời nhà cha sở về địa điểm hiện nay và dựng một nhà nguyện nhỏ dâng kính Đức Mẹ. Ngày thường, các giáo hữu đọc kinh dâng lễ tại đây, còn Chúa nhật thì cộng đoàn lại qui tụ về nhà thờ cũ.

Năm 1874, khi trở lại Bà Rịa lần thứ hai sau sáu năm làm cha sở Biên Hoà, cha Errard cùng với cha phụ tá Boutier tiến hành việc xây nhà thờ mới. Sau một thời gian chuẩn bị, lễ đặt viên đá đầu tiên được tổ chức vào ngày lễ Đức Mẹ dâng mình vào Đền thánh 21/11/1877. Giáo dân rất nhiệt thành dâng công góp của, hằng ngày mỗi gia đình đều có người luân phiên đến góp sức vào việc chung.

Đến tháng 10/1878, cộng đoàn đã có thể dâng lễ tạm trong nhà thờ mới. Ngày 14/5/1879, Đức Cha Colombert cùng với Đức Cha Pontvianne cử hành lễ làm phép trọng thể thánh đường Bà Rịa dâng kính hai thánh Tông đồ Giacôbê và Philipphê, lưu giữ kỷ niệm địa danh truyền giáo “Cap Saint-Jacques” trực thuộc địa hạt Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nhà thờ Bà Rịa được xây dựng theo kiểu dáng Roman, với vật liệu đơn sơ, trang trí tao nhã nhưng được thiết kế vững chắc và tiện lợi, phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng ven biển. Ba quả chuông được đưa về Nhà thờ trong thời gian cha Cagnon làm chánh sở (1887 - 1890).

Ngôi thánh đường suốt hơn thế kỷ đã nên như mái gia đình ấm cúng thân thương đón nhận bao thế hệ tín hữu Bà Rịa, được sinh ra và lớn lên trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa và của cả cộng đoàn. Ngôi thánh đường đã nhiều lần được tu sửa, nới rộng, nhưng vào thời điểm năm 2005, khi Giáo phận mới Bà Rịa được thiết lập, ngôi nhà thờ hơn trăm năm tuổi thực sự đã trở thành quá nhỏ bé trước vóc dáng cứ ngày thêm tăng trưởng của Họ đạo, nay đã thành Giáo xứ Chánh toà trong trang sử mới vừa được mở ra.

Từng bước phát triển hướng về tương lai, nhưng giáo phận trẻ Bà Rịa vẫn ý thức mình đang kế thừa cả một gia sản quí giá của tiền nhân. Ngày 15/8/2007, Đức Giám mục tiên khởi Tôma Nguyễn Văn Trâm đặt viên đá đầu tiên xây dựng Nhà thờ Chánh toà mới. Kiến trúc thánh đường hiện đại hơn nhưng vẫn muốn giữ lại nét dáng thân thương của ngôi nhà thờ cũ đầy ắp kỷ niệm. Núi đá Đức Mẹ Lộ Đức xây từ năm 1952 cũng được giữ lại nguyên vẹn như dấu tích của một thời đã qua.

Trong tầm nhìn toàn cảnh Thị xã Bà Rịa, Nhà thờ Chánh toà giáo phận nổi bật hẳn với hai ngọn tháp cao 45m trong màu đá hoa cương trang trọng, mang hình ảnh không thể nhầm lẫn của ngôi thánh đường công giáo giữa bối cảnh kiến trúc đa dạng của một vùng dân cư đông đúc.

Tọa lạc trên địa bàn trung tâm của địa hạt Bà Rịa - Vũng Tàu, ngôi đền thờ vươn cao vừa để chứng tỏ tấm lòng của các tín hữu muốn dành cho Thiên Chúa những gì tốt đẹp nhất, vừa nên như dấu chỉ hiệp nhất của cả cộng đoàn giáo phận. Từ trên ngọn tháp, sáu quả chuông với đường kính từ 60cm đến 114cm từ nay sẽ ngân vang tiếng gọi qui tụ đoàn dân Chúa.

Vừa khi bước qua cổng sân tiền đình, đến trước tượng đài Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, Bổn mạng Giáo phận và là Tước hiệu của Nhà Thờ Chánh Tòa, người tín hữu như đã cảm nhận được ngay lời mời gọi nâng tâm hồn lên cao hướng về Thiên Chúa tình yêu, qua Mẹ để đến với Chúa và nhờ Mẹ để đón nhận tràn đầy ân phúc.

Toàn bộ sân nền và tường nhà thờ đều được ốp đá hoa cương, tạo nên ấn tượng vững bền của Giáo Hội, dấu chỉ hữu hình cho công trình ngàn đời mà Chúa Kitô muốn xây dựng trên nền đá Phêrô. Ấn tượng đó như thêm rõ nét hơn với hình ảnh hai Thánh Tông Đồ trụ cột của Giáo Hội đặt ngay trước cửa chính diện thánh đường.

Bên trong ngôi nhà cầu nguyện, khu vực Cung thánh được thiết kế theo dạng thức hình tròn liên cấp, tạo nên ý nghĩa của tình hiệp thông trọn vẹn giữa đoàn Dân Thiên Chúa được qui tụ để làm nên ngôi Đền Thờ của Chúa Thánh Thần và cùng nhau cử hành hy tế Con Chiên Thiên Chúa.

Bàn tiệc Thánh Thể làm bằng cẩm thạch trắng với kích thước 4m dài và 1,2m rộng đặt tại vị trí trung tâm, mặt trước là bức phù điêu khắc hoạ lại khung cảnh bữa tiệc thiết lập Bí tích tình yêu, mặt sau là nơi niêm ấn thánh tích của ba vị chứng nhân đức tin đến từ ba miền đất nước: miền Nam với thánh Matthêô Lê Văn Gẫm, tín hữu thuộc xứ Long Điền, Bà Rịa, tử đạo ngày 11/5/1847 tại Chợ Đũi, giáo phận Sài Gòn, miền Trung với thánh Phêrô Hoàng Khanh, tử đạo ngày 12/7/1842 tại Hà Tĩnh, giáo phận Vinh, miền Bắc với thánh nữ Anê Lê Thị Thành, tử đạo ngày 12/7/1841 tại Phúc Nhạc, giáo phận Phát Diệm.

Đặc biệt, trong Nhà thờ Chánh toà, nhà thờ Mẹ của các thánh đường trong giáo phận, nơi đặt ngai toà của Đức Giám mục, ý nghĩa sâu xa của Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền được làm nổi bật qua hình ảnh mười hai Thánh Tông Đồ rực sáng trong các khung kính màu bao quanh Cung thánh như đang ân cần đón nhận ngai toà và huy hiệu của người kế vị các Ngài được đặt sau bàn thờ, ngay dưới chân Thánh Giá của Chúa Kito, là Thủ lãnh tối cao của toàn thể Giáo Hội và là Mục Tử nhân lành luôn yêu thương hy sinh mạng sống vì đoàn chiên.

Riêng những giáo dân Bà Rịa chắc chắn sẽ gặp lại bao kỷ niệm mỗi khi nhìn thấy tượng hai thánh bổn mạng Giacôbê và Philipphê vẫn đứng tại vị trí quen thuộc hai bên cửa chính nhà thờ và đặc biệt hơn nữa là hai toà giải tội đã có từ rất lâu, nay được phục chế theo đúng hình dáng cũ.

Từ các khung cửa sổ kính màu đặt dọc suốt hai bên tường nhà thờ, ánh sáng mặt trời soi rõ hai mươi mầu nhiệm Mân côi, hoà với những đường nét nghệ thuật của mười bốn chặng đàng Thánh Giá, vừa nâng cao tâm hồn các tín hữu trong giờ cầu nguyện, vừa tô đậm nét thẩm mỹ cho khung cảnh thánh thiêng đang bao trùm toàn thể cộng đoàn phụng vụ.

Dù là một ngôi nhà đơn sơ bé nhỏ hay là một công trình đồ sộ nguy nga, dù là nơi tập họp một cộng đoàn địa phương hay là nơi Chánh toà của giáo phận, dù trong âm thầm thường nhật hay khi toả sáng trong lễ khánh thành như hôm nay, ý nghĩa ngàn đời của từng ngôi thánh đường vẫn mãi là dấu chỉ của Mầu Nhiệm, tụ điểm của Hiệp Thông và khởi điểm của Sứ Vụ Giáo Hội của Bà Rịa - Vũng Tàu.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ NTO và nhiều nguồn ảnh khác

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Chùa Minh Thành - Pleiku

Pleiku quanh năm lãng đãng sương mù và thường hội đủ 4 mùa trong một ngày, sáng Xuân, trưa Hạ, chiều Thu, tối Đông - có lẽ nhờ thế mà Pleiku đẹp đến say lòng người. 

Tại Pleiku có một quần thể kiến trúc mang tính tâm linh góp phần làm nên nét đẹp của thành phố cao nguyên. Đó là chùa Minh Thành, một ngôi chùa không cổ nhưng là nơi có thể níu bước chân của những người yêu cái đẹp.

Chùa tọa lạc ở số 14A đường Nguyễn Viết Xuân, phường Hội Phú, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai. Chùa cách trung tâm thành phố 2km về hướng tây nam.

Chùa Minh Thành do Đại Đức Thích Tâm Mãn làm trụ trì. Đai Đức xuất gia và tu học từ 6 tuổi và ở TP Pleiku, tỉnh Gia Lai, năm 1987 Thầy vào chùa Niết Bàn núi Thị Vải, năm 1989 Thầy lên Sài Gòn và ở chùa Long Bửu, Khánh Hội quận 04.

Trong khoảng thời gian thầy ở chùa Long Bửu 11 năm và du học Đài Loan được 7 năm, Đại Đức Thích Tâm Mãn đã tốt nghiệp thủ khoa cao học mỹ thuật học Phật giáo, kiến trúc chùa tháp Phật giáo, nghệ thuật Phật giáo, là người tu sĩ đầu tiên ở Việt nam tốt nghiệp khoa này. Đại Đức đang là giảng viện của Phật học viện Phật giáo.

Ngôi Chánh Điện có hai tầng, Đại Hùng Bửu Điện, Đại Bi Điện được bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn-đà-la. Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn này là căn bản vũ trụ luận của Mật giáo.

Thông thường, có hai bộ mạn-đà-la. Kim cang giới mạn-đà-la biểu tượng cho trí tuệ sở chứng của Phật. Thai tạng giới mạn-đà-la biểu tượng cho phương tiện độ sinh của Ngài. Mỗi mạn-đà-la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Đại thừa giáo.

Những tác phẩm nghệ thuật chạm khắc tượng ở nơi đây, dựa trên nền tảng của triết học Mật giáo. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật giáo Đại thừa Mật tông được gói trọn vào đây.

Trước cửa chánh điện có tạc hai tượng Kim Cang Lực Sĩ cao 6m, trông rất sống động với cái nhìn dữ dội, xoáy vào tâm can kẻ tà tâm nhưng vẫn là hiện thân của cái thiện.

Cửa chánh điện chiều cao 6m, khung cửa dày 4 tấc với 6 cánh cửa dày 2 tấc, tất cả cửa được chạm khắc 6 vị đại Bồ Tát. Chánh điện chùa cao 16m, trần nhà làm bằng gỗ pơ-mu, và sập gụ.

Bộ lư và đèn được làm bằng chất liệu gốm, phục chế theo phong cách đời Lê mạt. Bàn thờ Phật tại chánh điện lớn nhất , với chiều dài 6m và cao 1,2m. Bộ chuông mõ lớn nhất. Kế đến là cặp bảo cái, cặp tràng phan, bệ hoa sen được đưa từ Nhật về. Các tượng Phật và Bồ tát thì được đưa từ Đài Loan về.

Chính giữa điện tôn trí tượng Tỳ Lô Giá Na Phật, cao 6m, nặng 16 tấn, mỗi cách sen có chạm khắc nổi những vị Phật, và vách phía sau là bát thập bát Phật (88 vị Phật). Ngũ phương Phật (5 vị Phật) Đông, Tây, Nam, Bắc, bát bộ kim cang (8 vị Hộ Pháp), tượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, ngoài ra còn có các tượng Văn Thù, Phổ Hiền,

Hai bên tả hữu, tôn trí tượng Thập nhị Duyên Giác (12 vị đại bồ tát), mỗi tượng cao ba mét làm bằng gỗ mít, sơn son thiếp vàng, Hai bên vách chánh điện có 30 ngàn vị Phật

Tất cả các bức tượng này được chạm nổi vào tường rất công phu. Thẳng theo hướng tây tầng dưới của chánh điện là; Đại Bi đường thờ Quan Thế Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn, mà theo cách gọi dân dã đó là Phật nghìn mắt nghìn tay, theo phong cách Việt Nam, cao 7,5m, thờ hai bên tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn là 2 tượng Hộ Pháp cao 3m, ba pho tượng được chạm khắc bằng gỗ.

Bên trái chánh điện là tháp Từ Ân thờ tổ khai sơn, tháp có ba tầng mái, lợp ngói vảy rồng, trang trí rồng và hoa sen cách điệu. Bên trái chánh điện là tháp chuông, tôn trí đại hồng chung nặng 4 tấn. Trước sân chùa Tượng đức Phật A Di Đà bằng đá, cao 7,5m, nặng 40 tấn được tôn trí uy nghiêm giữa hồ nước Liên Trì ao sen với hoa nở ánh hồng cả mặt nước. Trước ao Liên Trì là lư hương bằng đồng lớn nhất, cao 4m, nặng 4 tấn.

Một công trình khác đang được thi công và sắp hoàn thành đó là ngôi bảo tháp thờ Xá Lợi 9 tầng cao 72m, được tôn trí bên trong bảo tháp là 4 vị Thiên thủ Thiên nhãn, cao 8m và ngang 3,5m, được chạm khắc rất tinh tế sống động từng chi tiếc bằng gỗ mít. Tầng 1 và các tầng khác sẽ là nơi thờ thất Phật và Xá lợi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Bên phải chánh điện là khu tăng phường (gồm trai đường, giảng đường, thiền đường và tàng kinh cát) có diện tích hàng ngàn mét vuông, và những công trình khác như; phương trượng đường; khách đường. Những công trình đang sắp hoàn thành, xây cổng tam quan; nhà Tổ; nhà tăng; Điện thờ 500 vị La hán được làm bằng gỗ mít. Giới đường, đang chuẩn bị thi công, điện thờ tứ Thiên Vương.

Nghiêng ngả trong dòng đời ngược xuôi, du khách sẽ thật sự bình an, thanh tịnh khi đặt bước chân tới nơi cửa chùa Minh Thành. Để tạm trút bỏ trút bỏ tấm áo trần tục, để được sống trong những giây phút lắng đọng, nghe tiếng bình yên của cuộc đời.
Chùa Minh Thành không chỉ là điểm dừng chân của những tìn đồ Phật giáo mà còn là điểm đến của bao con người.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ internet