Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Thăm đá ông Câu

Thạch Ky điếu tẩu (nghĩa là Lão câu ghềnh đá, Hòn đá ông Câu) là vùng non thanh thủy tú ở bờ nam cửa biển Sa Kỳ, thuộc thôn An Vĩnh, xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 16km, về phía Đông Bắc.

Tạo hóa quả là hào phóng khi ban tặng cho vùng biển cửa Sa Kỳ vẻ đẹp thiên nhiên quyến rũ, lấy sự hòa điệu của đá và nước, núi và biển làm nền. Phía Bắc là An Hải sa bàn với cát trắng và sóng êm; phía Nam là Thạch Ky điếu tẩu cùng lò rượu, dấu chân khổng lồ tạo hình từ những khối đá lô nhô, tạo thanh từ tiếng dội của nước vào hang đá. Chữ Ky trong cụm từ Thạch Ky điếu tẩu vừa có nghĩa là ghềnh đá, tảng đá ngầm dưới nước, vừa có nghĩa là nước dội vào đá (Nguyễn Văn Khôn; Hán Việt từ điển; 1960).

Người địa phương thường truyền khẩu: Ngày xưa, lúc vùng này còn là bể, có một ông khổng lồ gánh đá lấp cửa biển chỉ còn một đôi gánh nữa là xong nhưng vì có một gánh đá quá nặng, khi bước chân qua cửa biển, đòn gánh bị gãy, đá đổ hai bên cửa nay thành hai quả núi. Dấu chân ông khổng lồ còn in rõ và hang đá là lò nấu rượu của ông khổng lồ.

Nhô lên ở đôi bờ vụng Sa Kỳ là hai ngọn núi đất An Vĩnh (phía Nam) và An Hải (phía Bắc). Nghiêng xuống mé biển và kéo dài ra phía xa là những khối nham thạch màu đen, xốp bị các tác nhân xâm thực (nước biển, sóng, gió...) bào mòn không đồng đều, tạo thành những ghềnh đá, hang đá rộng hẹp nhiều hình dạng, vết lõm trên mặt đá phẳng, những khối đá sót nhấp nhô hoặc vươn cao khỏi mặt nước, những viên đá vỡ nhiều kích cỡ mà các nhà địa chất gọi là “viên than núi lửa”...

Sự đồng nhất về cấu tạo địa chất của các khối đá, vụn đá ở Sa Kỳ cho phép phỏng đoán về hoạt động của một núi lửa vào thời điểm cách chúng ta nhiều chục vạn năm khiến dung nham từ trong ruột địa cầu phun trào lên khỏi mặt đất, đổ tràn ra mé biển, ùa xuống vụng nước Sa Kỳ, sau đó đông kết thành khối phún xuất thạch đè lên nền đất đá trầm tích.

Từ những khối đá, ghềnh đá này, trong khung cảnh thiên nhiên bao la biển cả, phóng khoáng mây trời mà con người hình dung thành “lão câu ghềnh đá”, “lò rượu”, “bàn chân khổng lồ”, lại gắn vào đó nhiều tích truyện lý thú, kích thích trí tưởng tượng của các thế hệ tao nhân mặc khách...

Nhờ tựa vào những ghềnh đá, hốc đá mà các loài hải sản sống ở đây nhiều hơn hẳn các vùng ven biển khác, trong đó có những thức mà giới sành điệu về ẩm thực gọi là “hảo hạng”: cá hồng, cá đối, cá kè, cá hanh, cua huỳnh đế, ghẹ, chình biển, rắn biển, nhum, rau câu, rau chân vịt...

Hình ảnh quen thuộc và cũng khá nên thơ của Thạch Ky điếu tẩu là những mõm đá, hang đá nổi chìm nhiều dạng, lũ trẻ vui đùa cùng sóng nước, vài chiếc thúng câu nhấp nhô, mấy người buông lưới rồi dùng chiếc sào đập lên mặt nước tạo thành dãy âm thanh bì bập lùa cá, phía xa xa, cheo leo trên mõm đá là nhóm người ngồi câu.

Mấy năm gần đây, con nhum (một loài nhuyển thể, làm mắm rất ngon, ngày xưa phải tiến vua, nên gọi là mắm ngự, mắm tiến) vốn có nhiều ở vùng biển Thạch Bi (Đức Phổ) lại sinh sôi ở đây khá nhiều. Vào mùa bắt nhum, từng cặp vợ chồng trẻ dắt nhau ra gành đá, chồng lặn sâu, mò vào hốc đá bắt nhum, vợ ngồi trên bờ bóc vỏ nhum, lấy từng muối thịt đỏ hồng để đem về làm mắm.

Thứ mắm có hương vị đặc biệt, ai một lần ăn thì nhớ để đời. Đến trưa, người bắt nhum, người câu cá, người quăng chài rủ nhau quây quần trên một phiến đá rộng cùng ăn trưa, cười nói râm ran.

Nước xanh biêng biếc, sóng biển rì rào, mấy hạt cát li ti vương trên những khuôn mặt sạm nắng và gió bất chợt lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Du lịch, GO! - Theo Lê Hồng Khánh (báo Du Lịch), ảnh từ internet

Kỳ bí giếng trời trên đỉnh Mó Tiên

Giai Xuân là một xã miền núi của huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An với hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Trên những ngọn núi xanh xa thẳm ấy đến nay vẫn còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện thần thoại, kỳ bí...

Làng Kẻ Lặn và ngôi đền linh thiêng

Vượt hơn 100km từ TP Vinh, chúng tôi tìm về xã miền núi Giai Xuân để được chiêm ngưỡng và nghe câu chuyện kỳ bí về Mó Tiên (giếng trời). Các cụ cao niên trong xóm Long Thọ, xã Giai Xuân cho biết, cái mó nước tiên đó có từ khi nào cũng chẳng ai biết được, người dân nơi đây chỉ biết rằng khi sinh ra đã thấy có mó nước đó rồi.

Ông Bùi Văn Thông (64 tuổi), người dân tộc Thổ cho biết, từ ngày còn bé ông đã thấy mó nước không bao giờ vơi cạn nằm ở đó, hỏi cha, hỏi ông cũng chẳng có ai rõ về thời gian xuất hiện mó nước.

< Dấu chân voi và dấu chân ông Đùng còn lưu giữ trên phiến đá bên cạnh mó Tiên.

Ông Thông kể, trước đây ở trên đỉnh Mó Tiên là nơi sinh sống của bà con dân tộc Thổ, hơn 100 hộ gia đình quây quần với nhau trong ngôi làng Kẻ Lặn.

Ngày đó, ở trên ngọn núi, cạnh ngôi làng, sát bên mó nước còn có một ngôi đền mang tên đền Mó Lặn. Ngôi đền được xây dựng với kiến trúc và vật liệu rất đặc biệt, quy mô hoành tráng, 4 cột đền được xây bằng đá phiến. Trong đền thờ vị thần có tên Nhà Bà (không ai rõ vị thần này có ý nghĩa như thế nào).
Tương truyền, ngôi đền này rất thiêng, hễ ai có nguyện vọng nào thì chỉ cần thành tâm mang lễ đến đền cầu khấn thì sẽ được toại nguyện. Do đó cứ vào ngày rằm hoặc mùng 1 hàng tháng, người dân trong làng và khách thập phương lại tập trung về ngôi đền để làm lễ mong cầu may mắn để làm ăn và cả tình duyên.

Thời gian trôi qua, cuộc sống trên ngọn núi cao đường đi lại khó khăn nên người trong làng rủ nhau dời nhà về chân núi định cư. Dần dần ngọn núi không còn ai ở lại, nhưng ngôi đền Kẻ Lặn thì vẫn tồn tại theo thời gian. Ngôi đền tọa lạc ở vị trí khá đẹp, có không gian rộng và thoáng, từng là nơi trú ẩn của bộ đội ta trong kháng chiến chống Pháp.

< Mó Tiên, giếng tiên được xây lại để lấy nước sinh hoạt cho người dân.

“Ngày đó, bên cạnh ngôi đền Kẻ Lặn có hai cây đa cổ thụ án ngữ ngay lối vào tựa như cổng chào. Xung quanh đền, cây cối mọc um tùm xanh tốt, đặc biệt có rất nhiều cây ban, vào mùa xuân hoa ban nở trắng cả một vùng”, ông Thông cho biết. Khung cảnh nên thơ, hùng vĩ đó như tôn thêm vẻ kỳ bí cho ngôi đền Mó Lặn. Bà con dân tộc Thổ ở làng Kẻ Lặn tôn thờ, coi ngôi đền này là hiện thân của bản làng và là nơi giao lưu văn hóa, tâm linh của bà con trong bản.

Những năm 60, khi phong trào bài trừ mê tín diễn ra mạnh mẽ, ngôi đền bị phá bỏ. Từ đó đến nay, theo thời gian dấu tích của ngôi đền chỉ còn lại một nền đá ong trơ trọi. Hai cây đa và rừng cây ban cũng bị người dân nơi đây phá bỏ. Ngôi làng không còn, ngôi đền cũng không còn nhưng Mó Tiên vẫn còn đó cho đến ngày nay.

Dấu tích cần được bảo tồn

Cụ Lê Thị Quàng, (91 tuổi), một lão niên ở xóm Long Thọ kể: “Ngày đó, mó nước được gọi tên là Mó Lặn, từ khi có chương trình nước sạch thì mới đổi thành Mó Tiên”. Gọi là Mó Tiên bởi đây là một dòng nước chảy ra từ trong lòng núi, kỳ lạ là nước ở đó trong vắt, có thể nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy, nước không bao giờ cạn, rất ấm vào mùa đông còn mùa hè thì mát lạnh. Truyền thuyết cũng kể lại rằng, từng có một đoàn tiên nữ trên trời xuống trần dạo chơi, khi đến ngọn núi này, thích thú với cảnh sắc nên các tiên nữ đã dừng lại và tắm ở Mó Lặn.

< Bà Lê Thị Quàng đang kể lại truyền thuyết về ngôi đình Mó Lặn ngày đó.

Một truyền thuyết khác lại nói rằng từ xa xưa, khi các thần trên trời chuẩn bị xuống hạ giới kiểm tra cuộc sống nhân gian, họ sai ông Đùng (một vị thần chuyên lo việc tiếp đón ở trên trời) xuống hạ giới trước để chuẩn bị cho đoàn nghỉ ngơi. Ông Đùng phải làm một cái hồ cho voi uống nước và ngựa tắm. Khi đặt chân xuống trần gian, ông Đùng đã chọn điểm dừng trên ngọn núi Mó Tiên. Nhưng thay vì làm công việc được giao, ông Đùng say mê cảnh đẹp mà quên mất nhiệm vụ. Chỉ đến khi nghe tiếng lục lạc của ngựa và voi nhà trời xuống gần ông Đùng mới hốt hoảng đưa tay vục vào đỉnh núi tạo hồ. Tức giận trước sự lười biếng, ham chơi của ông Đùng, nhà trời tức giận sai thần sét trừng trị ông.

Ngày nay, bên cạnh mó nước đó vẫn còn lưu lại vết chân người rất lớn mà cụ Lê Thị Quàng được cha ông kể lại là dấu chân ông Đùng khi chạy trốn sự trừng trị của thần sét, bên cạnh còn có một dấu chân voi được cho là dấu chân voi nhà trời ngày đó. Từ điển tích ông Đùng bị sét đánh, người dân ở đây còn lưu truyền lại rằng, khi bị sét đánh người ông Đùng chia làm hai, một ở cạnh Mó Tiên, một ở ngọn núi Eo Lèn cách đó không xa. Ngày nay, tảng đá hình người đó vẫn còn và được một gia đình giàu có ở xã Nghĩa Hoàn vào mua về làm cảnh. Ngoài ra, bên cạnh Mó Tiên còn có khối đá hình con rùa được cho là thần bảo vệ cho mó nước ngày đó.


< Cây sanh đại cổ thụ đứng sừng sững bên cạnh khe Đáu thuộc xóm Kẻ Mui - Giai Xuân.

Không chỉ Mó Tiên, thiên nhiên đã ưu đãi cho mảnh đất nơi đây hệ thống 4 mó nước khác bao gồm: mó Làng Khót, mó Ông Đùng, mó Nại, mó Dứa. Tất cả 5 mó này đều nằm tập trung trên các ngọn núi của xã Giai Xuân, đến nay có 4 trong số các mó đó chuyên cung cấp nước cho diện tích đất nông nghiệp. Đặc biệt hơn, Mó Tiên là một trong những mó có trữ lượng nước lớn nhất. Để tận dụng nguồn nước từ thiên nhiên đó, chính quyền xã Giai Xuân đã đưa ra đề án sử dụng nước từ Mó Tiên cho sinh hoạt của người dân trong vùng. Năm 1998, Bỉ đã tài trợ nguồn vốn cho dự án nước sạch. Mó Tiên được đưa vào sử dụng, đã cung cấp nước dùng trong sinh hoạt cho 3.000 hộ dân trong xã với đường ống dài 8km.

Ông Vũ Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch xã Giai Xuân cho biết: “Mó Tiên là một trong những nguồn cung cấp nước sinh hoạt lớn nhất cho người dân, trong những năm tới chúng tôi cũng xây dựng kế hoạch để bảo tồn và hơn ai hết là kêu gọi ý thức bảo vệ của người dân”. Bởi lẽ, ngày nay, núi Mó Tiên đã được người dân khai thác làm đất trồng trọt, trên đó giờ chỉ còn bạt ngàn những rãnh mía xanh tươi. Dấu tích về ngôi làng Kẻ Lặn cũng không còn, chỉ còn lại mó nước với dấu chân voi và dấu chân ông Đùng cùng với nền đá được xem là dấu tích của ngôi đền Kẻ Lặn linh thiêng một thời.

Du lịch, GO! - Tổng hợp theo ANTĐ, PL&XH

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Trầm mặc nhà thờ Khoái Đồng

Nhà thờ Khoái Đồng (còn có tên khác là Khói Đồng) tọa lạc tại 127 đường Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định. Nhà thờ Khoái Đồng và nhà thờ Chánh tòa Đà Lạt là 2 nhà thờ duy nhất ở Viêt Nam thờ Thánh Nicolas.

< Nhà thờ Khoái Đồng trầm mặc bên hồ Vị Xuyên.

Địa phận nhà thờ Khoái Đồng là một khu vực lớn nằm ở trung tâm thành phố Nam Định được giới hạn bởi các phố: Trần Tế Xương (đoạn Bờ Hồ), Nguyễn Du, Bắc Ninh kéo dài và Lê Hồng Phong (đoạn Nhà văn hóa Thanh Niên) ngày nay. Trong khu vực đó còn có nhà thờ Saint Thomas, nay là trường THPT Nguyễn Khuyến.

Nhà thờ Khoái Đồng, một ngôi Thánh đường đồ sộ được xây dựng ngay bên bờ hồ Vị Xuyên - Nam Định. Nhà thờ do các cha Dòng Đaminh xây cất nhờ sự tham gia cộng tác đắc lực của giáo dân. Nhà thờ được khởi công xây dựng năm 1934 cùng với Giáo Hoàng Chủng Viện Thánh Alberto Cả và trường Sư phạm Saint Thomas - Nam Định. Vào dịp Lễ Sinh Nhật năm 1941 một Thánh Lễ Misa được cử hành long trọng lần đầu tiên tại đây. Nhà thờ dâng kính Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo là vì Thánh đường này được xây dựng trên bờ sông Vị Hoàng, nơi hàng vạn anh hùng ẩn danh đã hy sinh tính mạng vì Đức Tin và vì Giáo Hội Việt Nam.

Từ năm 1952 - 1954, cha G.B. Trần Mục Đích O.P., Dòng Đaminh là người Việt Nam về làm phó xứ. Sau biến cố lịch sử 1954, các linh mục ngoại quốc về nước, cha Đích vào Nam. Từ 1956 - 1958 nhà thờ Khoái Đồng không có linh mục phụ trách.

Năm 1959, MTTQ Nam Định cử linh mục Đaminh Lâm Quang Học ở xứ Giáo Lạc - Nghĩa Hưng về coi sóc giáo xứ Khoái Đồng cho đến năm 1963 thì qua đời.

Trong giai đoạn này, TGM Bùi Chu có thư mời nhờ linh mục Đinh Lưu Nhân thuộc nhà thờ Lớn Nam Định sang giúp mục vụ. Vì hoàn cảnh chiến tranh, nhà thờ Khoái Đồng không có linh mục về phục vụ nữa, giáo dân thì sơ tán, một số tài sản, bàn ghế, đồ lễ bị thất lạc, riêng chuông nhà thờ được đưa gởi tại nhà xứ Tứ Trùng, xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, thành phố Nam Định.

Nhà thờ đã tồn tại trên một thế kỷ, trầm mặc và duyên dáng soi bóng bên bờ hồ Vị Xuyên êm đềm phẳng lặng. Hình ảnh này từ lâu đã đi sâu vào ký ức của biết bao thế hệ người Nam Định và trở thành một biểu tượng của Thành Nam.

Đây có lẽ là nhà thờ có kiến trúc mái vòm duy nhất tại Việt Nam. Tên gọi chính thức là Nhà thờ St. Nicholas, là một trong 2 nhà thờ ở Việt Nam thờ thánh Nicholas (cùng với nhà thờ Chánh tòa Đà Lạt).

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, hiện nay nhà thờ đã xuống cấp, tuy nhiên nó vẫn giữ được vẻ quyến rũ đến khó quên. Trong thời gian sắp tới nhà thờ sẽ được trùng tu để trở về nguyên trạng kiến trúc ban đầu.

Ngày nay nhà thờ tương đối hoang vắng, do nhiều nguyên nhân của lịch sử. Khuôn viên xung quanh nhà thờ bị thu hẹp khá nhiều. Chỉ còn lại bóng dáng rêu phong của mái vòm chính, ngọn tháp chuông cao đã bị chóc lở lộ ra những lớp gạch đỏ au. Khu vực trung tâm nhà thờ ít có người được vào tạo nên vẻ đẹp lạ kỳ và bí ẩn của nhà thờ giữa trung tâm thành phố đông đúc, tấp nập.

Du lịch, GO! - Theo NTO, internet

Nơi ăn vặt đông khách nhất ở Hà Nội

Không hiện diện ngoài mặt phố, cũng không cần quảng cáo rầm rộ, những quán ăn dưới đây vẫn thu hút lượng thực khách mà bất cứ quán nào cũng phải mơ ước. Giá có thể rẻ hay cao nhưng nếu đến thưởng thức một lần, bạn sẽ thấy xứng đáng đồng tiền bát gạo.

1. Chè 72 Trần Hưng Đạo

Quán chè thập cẩm ở ngõ 72 Trần Hưng Đạo có tuổi đời gần 40 năm (1976), đã truyền được 3 đời. Một cốc chè ở đây có giá... 35 nghìn đồng, có thể nói là đắt nhất Hà Nội hiện nay. Tuy nhiên, có thể nói chè Trần Hưng Đạo đắt nhưng "xắt ra miếng".

Chè thập cẩm gồm 17 loại hoa quả như mít, nhãn, mãng cầu, trân trâu nhân sô cô la, trân châu nhân nho, nước cốt dừa... Bên cạnh đó, cửa hàng cũng phục vụ trà hoa nhài miễn phí và có thêm món bánh mì thịt quay độc đáo với giá 20 nghìn đồng/chiếc.

Giá khá cao, nhưng những hương vị trong cốc chè thập cẩm nơi đây đúng là khác biệt, không có ở bất kỳ quán chè nào ở Hà Nội.

2. Chè Bobochacha, ngõ 92 Cửa Bắc

Cách đây khoảng chục năm, quán chè bobochacha thực ra cũng nằm ở vị trí "đắc địa" ngay đầu một ngõ lớn (ngõ 92) trên phố Cửa Bắc. Hồi đó, quán chè này kết hợp với tiệm thịt xiên nướng bên cạnh đã rất được lòng các khách xì tin. Nhưng không hiểu vì lí do gì, hai nhà bỗng nhiên trở mặt, nảy sinh tranh chấp rồi quán chè bị chuyển tít vào trong ngõ.

Dù đi bộ không xa hơn mấy nhưng khách vẫn phải mất đôi lần rẽ nữa và nhìn biển chỉ dẫn thì mới tìm lại được quán chè bobochacha yêu thích.

Kỳ lạ là từ ngày chui vào chỗ khuất, quán lại càng đông khách hơn. Đối tượng khách hàng cũng được mở rộng phạm vi, không chỉ còn là những cô cậu học trò mà còn có cả sinh viên hay dân văn phòng mê ăn vặt cùng tìm đến quán.

Có lẽ bởi so với các món chè khác ở Hà Nội thì bobochacha khá lạ, không hề đụng hàng. Có 3 loại chè là: đen, trắng và hoa quả, hương vị dễ ăn, dìu dịu, thanh mát mà giá cả thì hợp túi tiền với dân teen.

Quán nằm trong ngõ đối diện trường Phan Đình Phùng, bán từ tầm trưa đến kh 6h chiều thôi. Giá bán 10 nghìn đồng/1 bát nhưng bạn sẽ phải mất thêm 5 nghìn đồng tiền gửi xe ở bên ngoài.

3. Bánh giò Hồ Tây (trong vườn hoa Lý Tự Trọng)

Nằm ở vườn hoa nối Thụy Khuê và Thanh Niên, quán bánh giò nhìn bình thường và dân dã. Thực khách của quán ngồi trên những chiếc ghế nhựa nóng lòng chờ đến lượt mình. Bánh giò không phải là một món ăn lạ nhưng để tìm được một hàng bánh giò ngon thì không dễ đâu. Chọn cho mình một chỗ dưới bóng cây lộc vừng, ta ngắm nhìn bác chủ hàng khéo léo bóc bánh, cắt chả...


Bánh giò ăn nóng mềm, nhân có nhiều thịt. Đặc biệt một đĩa bánh bao giờ cũng đầy ắp giò chả và dưa chuột. Có 4 loại giò chả: giò lụa, giò bò, giò tai và chả cốm. Quán luôn tấp nập các thực khách trẻ tuổi.

Giá bán 25 nghìn đồng/bánh đầy đủ các loại chả, tuy hơi "chát" nhưng khi nhìn đĩa bánh đầy ụ giò chả, bạn sẽ thấy cũng đáng đồng tiền bát gạo.

4. Bún cá Sâm Cây Si (ngõ Trung Yên, từ Đinh Liệt rẽ vào)

Ngõ Trung Yên nhỏ xíu ngoằn nghèo nhưng có khá nhiều hàng ăn ngon, nổi tiếng. Một trong số đó là quán bún cá Sâm cây si.

Cái tên "Sâm cây si" cũng bắt nguồn từ chỗ bán hàng nằm đúng khúc cua của ngõ, bên cạnh một cây si, còn cô chủ hàng tên là Sâm. Bên ngoài quán trông hơi nhếch nhác vì nằm ở ngõ phố đông xe đi lại.

Nhưng bù lại bún cá ở đây ngon tuyệt. Cá rô phi, rán giòn, miếng cá dày, nước dùng dễ ăn.

Đặc biệt nhất là quán có cả món chả cá viên có 3 lớp, làm từ thịt xay, cá xay và vỏ bằng bột gạo. Mỗi viên chả giá 5 nghìn đồng.

Quán nằm sâu trong ngõ nên nếu muốn ăn, bạn gửi xe ở ngoài phố Hàng Bè rồi tản bộ vào.

5. Quán cháo trai (cuối đường Quán Thánh)

Quán nằm ngay phía sau đền Quán Thánh, cuối đường Quán Thánh. Bát cháo trai ở đây khá đầy. Nếu bạn đi 3 - 4 người chỉ nên gọi 2 bát và gọi thêm một số món khác. Cháo trai giá 20 nghìn đồng/bát, trà đá 3 nghìn đồng/1 cốc.

Một món ăn của quán này cũng được nhiều người ưa thích là bún ốc nguội. Bún ốc nguội nếu có giò, thịt bò, đậu và cả ốc là 45 nghìn đồng. Nếu chỉ có ốc là 30 nghìn đồng.

Giá cả ở đây không rẻ nhưng chất lượng thì tuyệt vời.

6. Bún cá ngõ Hồng Phúc

Vị trí: Ngõ Hồng Phúc, gần bốt Hàng Đậu. Nếu đi đường Hàng Than thì tìm sẽ mất công hơn. Bạn nên đi đường Hàng Đậu, ngõ Hồng Phúc nằm bên tay trái.


Đây là hàng bún lâu năm, được rất nhiều người ưa thích. Quán mở 24/24h nhưng chưa bao giờ vắng khách. Trước kia, ngõ Hồng Phúc chỉ có một hàng bún cá, cùng với thời gian và sự phát triển thì ngày càng có thêm nhiều hàng quán được mở ra để đáp ứng nhu cầu của thực khách.

Phố “bún cá” là một điểm đến hấp dẫn cho những lữ khách chơi đêm. Bát bún cá ở đây khá đầy đặn: thịt cá nhiều và được cắt miếng dày, vuông vức, rán vàng, chả cá mỏng kiểu Hải Phòng tất cả được "nhúng" nước dùng chua dịu vô cùng thơm ngon. Thêm vào đó, hàng có thêm đặc sản là đầu cá rán giòn, chan chút nước dùng chua chua, thêm dọc mùng, nhâm nhi cũng rất hợp rượu.

Một điểm cộng cho bún cá Hồng Phúc là giá cả không có sự chênh lệch như những hàng ăn đêm khác. 30.000đ/bát là số tiền bạn phải trả cho một bát bún hấp dẫn này.


7. Chả nhái Khương Thượng

“Tổ” của món chả nhái chính là Làng Khương Thượng. Chẳng thế mà ngày xa xưa người ngoài gọi làng này là làng “xẻ ruột, lột da” để ám chỉ về cách chế biến món nhái, ếch, chão chuộc của người trong làng.

Cửa hàng nhà chị Hà Khuê, với tuổi đời 70 năm là đông khách nhất. Quán chỉ bán từ 10 giờ sáng đến 1 giờ chiều.
Gọi là cửa hàng cho oai chứ chị làm chả nhái và bán luôn tại nhà, chỉ phục vụ những nhóm khách ăn từ 6 người trở lên. Khách mua về cũng rất đông, nhiều buổi xếp hàng chật cả ngõ.

Các món chế biến từ nhái được gọi bằng những cái tên khá ngộ, đôi khi hơi tục: Đùi nhái chiên giòn là món quần đùi, nhái tẩm ướp rán cả con là món nude, nhái tẩm bột chiên giòn cả con là món "quần dài", nhái băm chả gọi là trải chiếu.

Nếu đi đông người, tầm giá ăn trung bình là 50 đến 80 nghìn đồng/người. Bà chủ ở đây hơi khó tính, tốt nhất các bạn nên mua về nhà ăn.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Yeudulich và nhiều nguồn khác

8 địa điểm chụp ảnh đẹp ở Hà Nội

Ga Yên Viên,  Cầu Long Biên hay các con phố trải đầy lá vàng rơi luôn là nơi khơi gợi cảm hứng sáng tác cho các tay ảnh.

1. Vườn nhãn

Địa điểm: Vườn nhãn dưới chân cầu Vĩnh Tuy

Khoảng 2 năm nay, vườn nhãn với khoảng 500 cây gần chân cầu Vĩnh Tuy (quận Long Biên, Hà Nội) đã trở thành địa điểm thu hút giới trẻ tới chụp ảnh.

Ở đây có những bãi cỏ rộng thênh thang, hấp dẫn các bạn trẻ bởi phong cảnh hữu tình.Tuy nhiên để vào được vườn nhãn các bạn trẻ sẽ phải trải qua con đường gồ ghề, trời mưa rất lầy lội, còn trời nắng bụi bay mịt mù. Nhưng "Vương quốc bọ xít" rộng vài ha nên các đôi tha hồ chọn vị trí tạo dáng mà không phải đợi chờ nhau.

2. Ga Yên Viên

Địa điểm: Đi theo hướng Bắc Ninh rùi qua Cầu Đuống đâm thẳng sẽ thấy Ga Yên Viên nằm bên tay trái.

Quang cảnh yên bình với những đoàn tàu trải dài, nơi đây phù hợp với những bạn thích mày mò cái mới mẻ, cổ điển và có chút cá tính.

3. Vườn hoa Nhật Tân

Địa điểm: Đi vào từ ngõ 264 Âu Cơ, Quận Tây Hồ.

Ở đây quanh năm có hoa nở, từ bách nhật, hướng dương, hoa cánh bướm, hoa móng rồng… tha hồ để các cặp đôi và các bạn trẻ tạo dáng.
Lệ phí để vào mỗi vườn là 20.000 đồng/người, đối với các cô dâu chú rể, chi phí có thể lên tới 200.000 đồng – 300.000 đồng mỗi đôi.

4. Các con phố lá vàng rơi

Địa điểm: Đường Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Điện Biên Phủ, Kim Mã.

Các con đường này đẹp nổi tiếng tại Hà Nội với những hàng cây dài hun hút, tạo nên cảm giác yên bình, trong lành.

Bất cứ khi nào bạn dạo bước tới đường Kim Mã, đoạn gần khu Ngoại giao đoàn và phố Vạn Phúc, bạn đều có thể tìm được những góc đẹp để chụp ảnh. Mùa xuân, đoạn đường phủ đầy chồi non đỏ rực của những cây bằng lăng san sát.

Mùa hè, thảm cỏ xanh mướt mát trở nên rực rỡ hơn trong nắng. Mùa thu, lá vàng rụng đầy con đường và ngay cả mùa đông đường Kim Mã với hàng cây khẳng khiu cũng thu hút các bạn teen mê mẩn pose hình.

5. Văn Miếu Quốc Tử Giám

Mùa thu Quốc Tử Giám để lại ấn tượng rất đặc biệt trong lòng người Hà Nội và du khách đến thăm. Đó là lá vàng rơi, bãi cỏ xanh cùng những tòa nhà cổ kính từ thời Lý. Nơi này luôn là lựa chọn đầu tiên của những anh chàng, cô nàng sinh viên muốn lưu giữ lại những kỉ niệm nơi giảng đường.

Ở bất kì góc nào, người ta cũng có thể thấy hình ảnh của những bộ áo dài thướt tha, những tay máy nghiệp dư nhưng lại rất nhiệt tình.

6. Hoàng thành Thăng Long

Địa điểm: Nằm trên đường Hoàng Diệu.

Không có quá nhiều điểm đặc biệt nhưng nơi đây thu hút các thợ ảnh bởi khung cảnh cổ kính, tạo nên cảm hứng sáng tác nghệ thuật.

7. Cầu Long Biên

Cầu Long Biên không chỉ là một chứng nhân lịch sử, nối đôi bờ sông Hồng mà còn nối liền cuộc sống bình dị, hoang sơ của người dân bãi giữa sông Hồng với sự náo nhiệt chốn phồn hoa đô thị.

Mỗi khoảnh khắc trong ngày đều đem đến cho cây cầu lịch sử này một vẻ đẹp khác nhau. Nếu sáng sớm, cây cầu thấp thoáng trong màn sương giăng giăng phía sau bãi giữa sông Hồng thì lúc chiều buông, cầu Long Biên lại trở nên trầm mặc cổ kính như người nghệ sĩ lúc tuổi xế chiều.

8. Hồ Gươm và Phố cổ

Địa điểm: Xung quanh Hồ Gươm, các con phố cổ.

Nếu muốn lưu giữ lại nét đẹp trầm mặc, dịu dàng của Hà Nội thì khu vực phố cổ là điểm đến thích hợp nhất. Khung cảnh cây xanh ven hồ Hồ Kiếm, với cầu Thê Húc màu son, Tháp Rùa nổi bật giữa hồ. Còn khu bàn cờ với phố Hàng Mã luôn rực rỡ đèn lồng, Hàng Vải với những thanh tre, nứa tạo nên hình dáng độc đáo hay những khu phố nghề cũ cũng sẽ là phông nền đẹp mắt.

Khi thu sang, hồ Gươm mang một vẻ đẹp lạ, gió thu se se lạnh, người ta có thể cảm nhận rõ mùi lá khô rụng hòa quyện với mùi nước và đất. Thời điểm này cũng là lúc những chùm hoa lộc vừng đỏ rực duyên dáng rủ xuống mặt hồ. Nếu như cuối đông, lộc vừng thay lá vàng rực thì cuối thu, cây trổ hoa đỏ như những tấm màn buông bên mặt nước. Trời nước trong xanh và hoa lộc vừng sẽ tạo nên một khung cảnh nên thơ tuyệt đẹp.

Du lịch, GO! - Theo VietDesigner

Tận hưởng mùa đông ở miền Bắc

Những khách du lịch từ phương Nam nếu có dịp ra Bắc vào thời điểm này hãy cố gắng ghé những địa điểm sau để cảm nhận hết không khí lạnh của mùa đông cắt da cắt thịt.

Sapa

Vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, Sapa đều đẹp và lãng mạn. Vẻ đẹp ấy cùng nét duyên của thị tứ vùng cao thanh bình bảng lảng trong mây, trong sương giúp cuốn trôi mọi mệt mỏi, lo âu. Đó cũng là lý do, nơi đây từ lâu đã được xem như “thiên đường nghỉ dưỡng”.

Tọa lạc ở vị trí khá cao so với mực nước biển, Sapa lạnh quanh năm nhưng lạnh nhất là vào mùa đông với thời tiết có khi âm vài độ. Với cái lạnh như thế, rất nhiều du khách không chọn đây là địa điểm nên đến vào thời gian này.

Thế nhưng, nếu nghĩ ngược lại, nhờ cái lạnh đó, chúng ta sẽ được ngắm những vạt băng trên cây cỏ vào sáng sớm. Bên cạnh đó, lượng khách du lịch đến đây mùa này cũng ít hơn, bạn sẽ cảm nhận cuộc sống nơi đây với nhịp điệu vốn có của nó.

Tam Đảo

Nếu vào các mùa khác trong năm, Tam Đảo mê hoặc lòng người với vẻ đẹp của 3 ngọn núi hoang sơ, hùng vĩ ẩn hiện trong mây vào mỗi buổi sáng chiều, thì vào mùa đông, vẻ đẹp ấy còn trở nên thơ mộng và huyền ảo hơn với những vạt mây nương theo bước chân du khách.

Nếu đến đây vào thời điểm này, bạn đừng ngần ngại làm một cuộc chinh phục nhỏ các ngọn núi để cảm nhận cái thú của việc leo núi không đổ mồ hôi hay pose những bức ảnh mờ ảo trong sương, trong mây. Một lưu ý nhỏ cho chuyến leo núi là bạn không nên trùm nhiều áo khoác, bao tay, mũ... bởi chỉ một lúc sau, tất cả đồ vật ủ ấm sẽ trở thành gánh nặng cho hành trình của bạn.

Yên Tử

Núi thiêng Yên Tử ghi dấu trong lòng người với những huyền thoại truyền thuyết kỳ thú và là nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử với mệnh danh "đất tổ Phật giáo Việt Nam".

Có hai cách để bạn chinh phục đỉnh núi, một là “kì cụi” chinh phục hàng ngàn bậc đá, đường rừng núi trong 6 tiếng (khoảng 6000m), hai là vừa lội bộ, vừa sử dụng hệ thống cáp treo lên cổng trời (2 lần). Mỗi cách đi có một cái thú khác nhau, trải nghiệm khác nhau, song đều gặp nhau ở một điểm là sau khi chinh phục đỉnh núi thành công, thì vài ngày tiếp theo, bạn không thể điều khiển chân theo ý mình (hệ quả của việc lên xuống hàng chục ngàn bậc thang).

Riêng đến đây vào mùa đông, ngoài cảm nhận vẻ đẹp của ngọn núi ẩn hiện trong mây, bạn còn bị cái đẹp, cái lạnh của rừng thông trên con đường dẫn vào núi mê hoặc.

Mai Châu

Cao nguyên Mai Châu vào mùa đông tuyệt đẹp với cung đường lấp lánh băng đá, những vạt hoa dại nhiều màu sắc, những chú bò thong dong gặm cỏ trên thảo nguyên bao la. Cái lạnh mùa đông ở đây cũng khác trong nụ cười, ánh mắt trong veo, những vòng tay và những điệu nhảy xòe sôi động.

Bên cạnh đó, cao nguyên này còn có hàng loạt dịch vụ du lịch khác để bạn trải nghiệm như khám phá thủy điện hòa bình, chinh phục hang Dơi… Nếu có thời gian, bạn đừng quên ghé thăm Thung Nai, khám phá động Đá Bạc, ngâm mình trong suối nước nóng Kim Bôi…

Du lịch, GO! - Theo An Huỳnh (Infonet)

Chợ chuột độc đáo ở miền Tây

Từ một điểm mua bán chuột tự phát, Phù Dật trở thành cái chợ chuột “độc nhất vô nhị” ở miền Tây. Nhờ nghề chuột mà nhiều người khấm khá, ai cũng có công ăn việc làm, có thu nhập ổn định.

< Nhiều thanh thiếu niên làng Phù Dật có việc làm và thu nhập ổn định từ nghề làm thịt chuột.

Người ta gọi đó là chợ chuột lớn nhất miền Tây, thậm chí lớn nhất cả nước nhưng sự thực cái chợ ấy chẳng có được… cái nhà lồng nào cả. Nhưng cái sự mua bán chuột ở đây thì lại diễn ra sôi động, tấp nập còn hơn cả chợ quê ngày tết. Đó chính là chợ chuột Phù Dật ở ấp Bình Chiến, xã Bình Long, huyện Châu Phú, An Giang.

Từ làng chuột đến chợ chuột nổi tiếng

Anh Lê Duy Khánh (còn gọi là Khánh “chuột” hay “vua chuột”) kể rằng không ai nhớ rõ cái chợ có tự bao giờ. Nghe kể lại thì dân làng Phù Dật ngày trước còn nghèo khó nên nhiều người sống bằng nghề đi gài rập chuột. Họ gài đồng gần nên mang chuột về Phù Dật bán cho những người mua về nhậu chơi hoặc cải thiện chất tươi cho bữa ăn hằng ngày. Từ đó, nơi đây mới bắt đầu phát sinh chuyện mua bán chuột.

Càng về sau, rất đông người sống dọc theo kênh Phù Dật thấy nghề bắt chuột cho thu nhập khá nên tham gia. Họ đi vào tận miệt Đầm Chích, Giang Thành, Tám Ngàn, Hòn Đất (Kiên Giang) để đánh bắt.

Cứ mỗi chiều, từng toán người cụ bị nào rập, nào chĩa bắn, bình đèn ắc quy chất xuống xuồng máy rồi chạy vào đồng để đặt bẫy, đi soi suốt cả đêm. Tờ mờ sáng, họ thu gom “chiến lợi phẩm” lại rồi mang đến mấy điểm thu mua chuột gần nơi đánh bắt để bán. Có chuyến họ đi cả tháng mới về.

“Vua chuột” Duy Khánh còn kể, ngày ấy đường vào làng chuột chỉ là đường đất nhỏ, xe tải không thể vào. Xe đậu trên quốc lộ 91 ở cầu Phù Dật hoặc vàm xáng Cây Dương chờ. Dân Phù Dật chất rộng (lồng) chứa chuột xuống xuồng rồi bơi đến chỗ xe tải đậu để bán. Dù việc đi lại khó khăn nhưng chợ ở đây vẫn phát triển rất mạnh. Vào những năm chuột rộ, xuất hiện nhiều trên đồng ruộng thì làng Phù Dật có nhiều người kinh doanh chuột phất lên, trở thành “đại gia… chuột” khấm khá.

Cứ thế, Phù Dật hình thành nên cái chợ chuột hồi nào chẳng hay.

Vào mùa đông ken (mùa đánh bắt chính), chạy dọc bờ kênh Phù Dật đèn thắp sáng trưng cả làng, tiếng dao chặt để mần thịt chuột cọc cạch sáng đêm. Từ đây, thịt chuột được túa đi khắp nơi để người ta chế biến thành những món đặc sản như chuột quay lu, chuột nướng muối ớt cay thiệt là cay, chuột xào lăn, chuột nấu mẻ, chuột khìa… trong các nhà hàng, quán nhậu. Bạn đang ở Sài Gòn, một hôm nào đó vào quán đồng quê, bạn gọi lên một đĩa thịt chuột quay thơm phức, bạn gắp đưa lên miệng, nhai tới đâu nghe giòn tan, béo ngậy tới đó… Và biết đâu cái miếng thịt chuột thơm ngon ấy có nguồn gốc từ cái chợ chuột Phù Dật xứ này, biết đâu đấy!

Làng quê đổi thay nhờ chợ chuột

Điều đặc biệt là cái chợ chuột độc nhất vô nhị này không hề có… ngôi chợ nào cả. Vào chợ chuột tìm mãi cũng không thấy cái nhà lồng, mái che nào, bởi đó chỉ là cái chợ dân gian, ban đầu là tự phát, Nhà nước chẳng cần đầu tư xây dựng gì. Cứ sáng sớm, tầm khoảng 7 giờ thì chuột từ các nơi chứa trong rộng (lồng) sắt được chở bằng xe máy vào chợ. Có lái mua chuột và bán ngay chuột hơi tại chỗ. Có người mua chuột để mần thịt, ướp lạnh mới phân phối lại các vùng miền xa xôi như Đông Nam Bộ hay Tây Nguyên.

Nhờ có chợ chuột mà nhiều lao động nông thôn ở rạch Phù Dật có việc làm cho thu nhập đáng kể. Người lớn và trẻ em đều có thể mần thịt chuột cho các vựa với thu nhập cả trăm ngàn đồng mỗi ngày. Như nhà chị Võ Thị Bé Ba có bốn người làm nghề mần thịt chuột mướn, thu nhập 300.000-400.000 đồng/ngày. Bên cạnh đó, người đi đặt rập/bẫy chuột mỗi đêm cũng kiếm vài trăm ngàn đồng, tương đối khỏe nếu so với nhiều công việc khác.

Cứ 3, 4 giờ chiều là dân Phù Dật lôi rộng sắt chứa chuột ra mần. Cái rộng có nắp đậy, có người thò tay vào rộng nắm đuôi chuột lôi ra đập đầu vào vành rộng. Thường là trẻ em làm việc này (nhưng em nào cũng làm chuyên nghiệp, không hề bị chuột cắn). Mỗi con chuột chỉ cần đập một cái là chết tươi. Chuột chết được chất thành đống. Kế đến là đội quân chuyên làm thịt chuột, họ lột da, mổ bụng, rửa sạch rồi ướp đá. Cứ thế, hàng trăm lao động tham gia vào các công đoạn của nghề mua bán chuột, từ đi bắt, thu mua, mần thịt cho đến mang đi phân phối các nơi, tạo thành chu trình khép kín, xem như ai cũng có công ăn việc làm.

Vợ chồng anh Khánh “chuột” được xem là đầu mối thu mua và kinh doanh chuột lớn nhất tại Phù Dật. Anh kể thêm, vào những mùa chuột nội địa ít thì vợ chồng anh sang cả huyện Cỏ Thum (Campuchia) để thu mua chuột. Từ khoảng tháng 4 đến tháng 8 âm lịch, chuột bên nước bạn đánh bắt được nhiều. Chỉ riêng anh Khánh đã thu mua 3-4 tấn/ngày. “Mỗi năm thu lợi từ nghề buôn chuột của vợ chồng tui cũng 40-50 triệu đồng. Nghề làm chuột kéo theo nhiều hộ dân tại làng Phù Dật khấm khá. Vào vụ, một bạn hàng mua trung bình 300 kg chuột với giá 22.000 đồng/kg. Khi mần ra thành chuột thịt (1 kg chuột hơi còn 700 g chuột thịt) thì bán lại được với giá 60.000 đồng/kg. Đầu, da, đuôi chuột đều có thể bán cho các hộ nuôi cá (để cho cá ăn) với giá bình quân 3.000 đồng/kg. Do vậy, hộ làm chuột thịt thu lời nhiều hơn dân bán chuột hơi” - anh Khánh chiết tính.

Đường vào làng chuột Phù Dật mới đây được trải nhựa, xe tải vào tận nơi chở chuột đi bán khắp xứ. Xóm làng thay đổi hẳn. Vào mùa thu hoạch lúa đông xuân hằng năm, làng chuột trở nên sôi động lạ thường. “Khắp các tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau hay Bạc Liêu… đều có mặt thương lái của Phù Dật đi thu gom. Rồi cũng từ đây, chuột hơi, chuột thịt được bán lại đi tiêu thụ khắp nơi. Vì thế, dù chẳng được Nhà nước đầu tư xây dựng chợ nhưng gọi Phù Dật là chợ chuột lớn nhất miền Tây là không sai. Nó đã góp phần diệt chuột, bảo vệ mùa màng rất hiệu quả” - anh Khánh nói.

Du lịch, GO! - Theo Pháp Luật TPHCM, internet