Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Những nẻo đường Tây Nguyên (2): Pleiku

Đến Pleiku vào lúc 6h sáng, một thành phố có phần giống với Đà lạt, cũng những dốc, những thung lũng, những dốc sương mù…
Cũng cái lạnh se se của cao nguyên, cũng cái mùi vị buổi sáng rất đặc trưng mà mình vô cùng yêu thích.
Nhưng, đó chỉ là những cảm nhận ban đầu!

Cả lũ lại lên xe thẳng tiến Thuỷ điện Ialy…Công việc trước tiên là thắp nhang tưởng niệm những người con đã hi sinh khi xây thuỷ điện, vì lũ, vì nước, vì đá, vì rừng thiêng nước độc, vì rắn rết…những cái chết để biến thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ thành công trình có ích, những cái chết vì chạm vào sự linh thiêng của tự nhiên, của núi rừng!

Ngày thứ 3 ở Gia Lai, cả đoàn đã hoàn thành xong mọi công việc, tất nhiên là cả một lũ ham chơi ngập xe thì cái việc đi về là điều không thể!
Buổi sáng, khi mà mình còn đang say sưa ngủ nướng cùng 2 chị em khác thì sếp đã đập cửa thình thình:

-“ Cái lũ lười biếng kia! Bọn mày có dậy không thì bảo anh!”
- …….
- Dậy! Dậy mau lên!
- ……..
- Có dậy không thì bảo !!!
- ….k…h.. ô…ng…!
- Thôi, anh xin bọn mày, dậy đi, dậy đi uống café, đi ăn sáng, đi chơi.
- ..chẹp! chẹp!..
- Dậy đi biển hồ, đi Ialy.

Nghe đến đây, phần vì tội ông sếp quá, phần vì cũng muốn đi chơi cho sớm sủa, đặc biệt là đêm qua về trễ quá nên không kịp ăn uống cho tử tế nên bụng đứa bào cũng đang rền rĩ, ba đứa con gái quyết định dậy!

Sau 30 phút chuẩn bị, khi mà bọn mình lết được ra khỏi phòng thì nhìn cái mặt sếp đã có vẻ dài ra rồi, sếp đang định lên tiếng kêu ca thì mình đã nghiến răng!
- Bọn em là thương sếp lắm nên hôm nay dù biết sếp sẽ lái xe mà bọn em còn đủ dũng khí bước lên xe, sếp đừng có mà cắn nhằn!
Sếp im re, nhe 2 cái răng khểnh Dracula, cười híp cả mắt!

Phải nói là café ở Pleiku ngon thật! Chưa bao giờ được uống café ngon thế. Bụng thầm cảm ơn cái quan hệ rây mơ rễ má của sếp với Bác Thu nên được suất café đặc biệt ở nhà khách của binh đoàn Tây Nguyên! Chỉ khổ thân sếp ngồi vâng vâng dạ dạ, café không được uống, ăn sáng không được ăn, thương qua cơ!Ấy, thương la thương thế, nhưng không thể trì hoãn cai sự sung sướng và háo hức được đi biển hồ lại được, “sếp cố chịu đói nha sếp” – cả lũ con gái thẽ thọt thương cảm!

Biển hồ không giống như một khu du lịch, đẹp nhưng giản dị, yên tĩnh, mình rất thích như vậy. Cả “cao lầu” chỉ có lèo tèo vài bóng khách – những cặp tình nhân tình tứ bên nhau chụp hình. Một cô gái câm bông hoa lên thỏ thẻ với người yêu “ Anh ơi! Em đẹp hơn hay hoa đẹp hơn?” – mình choáng, có cậy miệng bảy ngày mình cũng không thốt nổi một câu như vậy! Tội nghiệp, nhìn chàng trai đần hết cả mặt ra rồi cậy được một nụ cười, tôi nghiệp cái lũ bọn mình nhìn nhau bấm bụng nhịn cười~!

Biển hồ xanh trong, biển hồ rộng lớn, biển hồ hoang dã, ấy, nếu mà so với mắt của con gái Bana thì cũng chẳng sai. Thế nhưng, thật bất ngờ là ngoài cái cách giải thích cho “đôi mặt Pleiku biển hồ đầy” như vậy thì còn một cách giải thích khác. Nhìn từ cao xuống, 1/3 hồ gần đất liền có một dải đất mềm mại uốn cong, dải đất ấy xuyên vào đất liền, xuyên giữa rừng thông bát ngát. Nhìn như một chiếc mũi xinh xinh, hếch hếch đến yêu! Vậy là nhìn từ cao xuống, khái quát cả hồ thì biển hồ trông thật giống với một đôi mắt, một đôi mắt to tròn, biêng biếc mênh mang! Bỗng dưng thấy tiếc tiếc, nếu như biển hồ có cáp treo để bà con mình có thể từ trên cao nhìn hết vẻ đẹp tuyệt vời ấy, nhưng nghĩ lại, âu đó cũng con là cái may cho mình khi được chiêm ngưỡng một biển hồ mộc mạc và hoang sơ đên thế.

Sau khi ngắm cảnh, chụp hình, cả trầm tư và ồn áo, đứng, ngồi ngó nghiêng đủ mọi tư thế và chờ sếp gặm xong ổ bánh mì, cả lũ lại lên xe thẳng tiến Thuỷ điện Ialy.
30 phút sau xe dừng trước cổng Ialy!

Sừng sững và…lừng lững lạnh lùng! Đó là cảm nhận của mình, xem lẫn thất vọng khi nhìn cổng của nhà máy! Mình muốn nhìn thấy gì cơ chứ, ai vào mà không qua…cổng! Chỉ tội cho con bé “mơ mộng ngớ ngẩn” khi cứ nghĩ đến một thác Ialy đẹp như bài hát, hùng vĩ như lời kể của cao nhân.

Công việc trước tiên là thắp nhang tưởng niệm những người con đã hi sinh khi xây thuỷ điện, vì lũ, vì nước, vì đá, vì rừng thiêng nước độc, vì rắn rết…những cái chết để biến thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ thành công trình có ích, những cái chết vì chạm vào sự linh thiêng của tự nhiên, của núi rừng!

Xe chạy men con đường dẫn vào khu thuỷ điện, con đường quanh co uốn lượn giữa hai bên vực sâu thăm thẳm, giữa những khe suối hẹp, thác nhỏ còn sót lại vẫn còn phảng phất đâu đây dấu tích của một Ialy hùng vĩ, vẫn còn đẹp đến mức khiến ta phải trầm trồ.

Xa xa, vẫn còn thấp thoáng những dáng cây kơnia thân trắng muốt, thẳng tắp kiêu hãnh, vẫn còn vang vọng những âm thanh của núi rừng, vẫn còn những bãi đá cuội khổng lồ của hàng ngàn năm thác xối, thiên nhiên vẫn hùng vĩ và hoang sơ đến thế, mặc cho bàn tay cố đục đẽo của con người.

Tất nhiên là những lúc ngắm cảnh, anh chị em trong đoan vẫn cứ nơm nớp nhìn sếp. Sếo nheo nheo mắt, sếp ham vui, sếp cũng say sưa ngắm cảnh. Điều đó thì chẳng có gì đáng nói, điều đáng nói ở đây là sếp ..lái xe, mà con đường đang đi thì không có hàng rào chắn hai bên, mà sếp thì cứ chực lao về phía vực khi mải mê nhìn cảnh mà quên mất nhiệm vụ của mình. Thành ra, ngày hôm ấy không khác gì bọn mình được tham dự một chuyến phiêu lưu cảm giác mạnh, chốc chốc lại hét lên “Sếp ơi, nhìn đường!”

Xe vào đến nhà máy, cả lũ lục tuc kéo nhau xuống, có đứa tim vẫn con đập thình thịch, sếp vẫn vậy, vẫn nhe rằng cười làm dịu những câu rủa xả của chị em.
Rồi một đứa đưa ra cái đề nghị ngu ngốc: ” thi chạy dọc hầm xem ai chạy vào đến nhà máy trước”. “Một lũ trâu bò, ừ, cứ chạy đi, đường hầm thì dài, dốc và ..thiếu oxy, xem các con giời chạy được đến đâu thì lăn ra” – mình thầm rủa trong bụng, mà giờ mình có can thì cũng chẳng được. May cho bọn nó, mấy anh công nhân loáng thoáng nghe được lên tiếng can!

Dường hầm dài nhưng khá thoáng đãng và rất sạch sẽ, đi bộ chậm chậm, vừa đi vừa than, vừa giỡn khảng 15 phút là vào đến trung tâm nhà máy. Mình tự hỏi không biết mình cất công tha cái xác mình vào đây làm cái gì khi mà đi một quãng đường như thế để vào nhìn mấy cái máy, mấy cai quạt gió, lại còn không cho sờ vào hiện vật cho bõ công lặn lội, thôi thì lại chụp hình, lại đú đởn, ngúng nguẩy tạo dáng, và len lén nhân dịp người ta không ở đấy sờ vào cái máy cho bõ tức(chịp!)

Hành trình ra về, cả lũ cố gắng ngắm cảnh lần cuối, nhất quyết bắt sếp ngồi ghế sau nhường chỗ cho bác tài thật sự.

Còn tiếp
Những nẻo đường Tây Nguyên (1): Gia Lai
Những nẻo đường Tây Nguyên (2): Pleiku
Những nẻo đường Tây Nguyên (3): Rượu Ghè Bana
Những nẻo đường Tây Nguyên (4): Núi rừng Tây Nguyên
Những nẻo đường Tây Nguyên (5): Kongcharo
Những nẻo đường Tây Nguyên (6) : Đà Lạt

Haggard04
Du lịch, GO! - Theo Vysa, ảnh bổ xung từ internet

Viếng chùa Pôthi Somrôn mùa Vu lan

Khác với nhiều ngôi chùa khác, Pôthi Somrôn mang đậm tính cộng đồng. Chính điện và các tháp cốt được xây dựng trong một diện tích khiêm tốn. Không gian lớn còn lại được dành cho sinh hoạt chung, như chuẩn bị cho các lễ hội, các hoạt động về văn nghệ, thể thao giải trí…

< Chính điện khá khiêm tốn trong quần thể chùa Pôthi Somrôn.

Hoà trộn kiến trúc Khmer – Ấn Độ

Nằm ngay cạnh quốc lộ 91, chùa Pôthi Somrôn tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã bước sang tuổi 277.

< Bên trong chánh điện chùa.

Vào thế kỷ thứ 18, chùa Pôthi Somrôn lần đầu được dựng bằng cây lá, đến năm 1856, chùa được xây dựng lại bằng các loại gỗ quý như căm xe, thao lao, cà chít và lợp ngói hình vảy cá – ảnh hưởng hai nền văn hoá Khmer và Ấn Độ. Gần 100 năm sau, ngôi chùa xuống cấp, hoà thượng Thạch Khiêng lúc bấy giờ trụ trì đã sang Phnom Penh mời kiến trúc sư Campuchia vẽ bản thiết kế mới về sửa sang chùa trên cơ sở giữ lại kiến trúc truyền thống. Hoàn tất năm 1952, ngôi chùa được xây dựng bằng gạch đá duy trì đến ngày nay.

Có thể nhận ra, chánh điện là công trình nổi bật trong quần thể kiến trúc chùa Pôthi Somrôn. Chánh điện được xây cao, có hành lang rộng bốn phía, được cho là lối bố trí nhìn ra bốn hướng vũ trụ theo quan niệm của Ấn Ðộ giáo. Cửa chính quay hướng Đông vì người Khmer quan niệm Phật tuy ở Tây phương cực lạc, nhưng luôn hướng về Đông cứu độ chúng sinh.

Mái chánh điện có ba cấp chồng lên nhau, có hình rồng chạy dọc bờ mái, đuôi vươn thẳng lên trời. Bao bọc hành lang là các hàng cột với bốn cột gắn tượng chim thần Krud ngậm ngọc đan xen với các tiên nữ Kennâr. Các hoa văn kỷ hà và lục bình được chạm khắc tỉ mỉ trên tường, bậc thềm, chân cột, rào, khuôn cửa, nóc mái, vách tường tạo nên một Pôthi Somrôn độc đáo đậm bản sắc văn hoá Khmer.

< Tháp thờ xá lợi Phật.

Các chùa Khmer đều có các tháp cốt mà mỗi dòng họ trong cộng đồng xây dựng để lưu trữ tro người thân khi họ qua đời. Tuy nhiên, hiếm chùa nào còn lưu giữ ngôi tháp hơn 200 năm tuổi như Pôthi Somrôn. Tháp ở trước chánh điện, được xây bằng ô dước, đá ong, gạch thẻ từ thế kỷ 18, chứa hài cốt của nhiều phật tử, được gìn giữ qua nhiều đời. Chùa còn lưu giữ nhiều cổ vật như khoảng 100 bộ kinh Satra (sách lá), những cánh én bằng gỗ chạm trổ hình ảnh câu chuyện về Đức Phật Thích Ca từ năm 1856 và gần 20 tượng gỗ cũng từ thế kỷ 19 đến nay. Trải qua 13 đời hoà thượng trụ trì, trong chùa chỉ có di cốt của một, vì số còn lại đã hoàn tục trước khi viên tịch.

Ngôi nhà chung

< Tháp màu đen chứa hài cốt Phật tử được xây dựng cách nay hơn 200 năm bằng ô dước, đá ong, gạch.

Khác với những ngôi chùa theo phái Bắc tông, chùa Nam tông Pôthi Somrôn của người Khmer mang đậm tính cộng đồng, có không gian lớn dành cho sinh hoạt chung. Trai đường là khu nhà mà các tu sĩ trong chùa có thể dùng làm nơi ăn uống nhưng chức năng chính vẫn là để người dân có chỗ tụ tập sinh hoạt, thậm chí ngủ lại nếu ở nơi xa đến. Nhiều lúc, các tu sĩ tụng kinh trong chánh điện, nhưng người dân vẫn nhảy múa hát ca ngoài sân hoặc tại trai đường.

Chùa còn là nơi triển khai nhiều hoạt động xã hội, như vận động xây nhà tình thương cho đồng bào dân tộc Khmer, giúp sưu tầm các hiện vật quý... Không chỉ là thánh đường Phật pháp của đồng bào Khmer tại địa phương, nơi này cũng rất quen thuộc với người dân Tây Đô, khi nhiều sự kiện văn hoá, xã hội diễn ra, góp phần làm phong phú thêm đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Vị hoà thượng tại đây cho biết, trong những năm kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nơi đây từng đùm bọc, che chở nhiều thanh niên trốn quân dịch của chế độ cũ, cho họ tá túc và tu học thời gian dài.

< Cổng chùa mang nét đặc trưng của các ngôi chùa của đồng bào Khmer ở Nam bộ.

Đứng dưới gốc cây “vô ưu”, tương truyền được đem về từ Ấn Độ năm 1969 ở góc sân chùa, tôi cảm nhận một mùi hương thanh nhã nhẹ nhàng. “Phật tử Khmer coi mẹ và cha là quan trọng nhất, theo lời Đức Phật dạy. Vì vậy trong cuộc đời, con cái phải đối xử tốt và trả hiếu đấng sinh thành. Nam giới chúng tôi trước khi bước vào tuổi 21 sẽ dành thời gian vào chùa tu. Đó cũng là một cách báo hiếu cha mẹ của người Khmer”, một vị hoà thượng giải thích. Bước vào tháng 7 âm lịch, chùa đang có nhiều hoạt động cùng các Phật tử nhớ đến nhiệm vụ làm con của mình.

Đắm mình trong không khí trầm mặc khi đến chùa Pôthi Somrôn, khách có thời gian tĩnh lặng, vừa được chiêm ngắm kiến trúc độc đáo và cảm nhận cuộc sống gần gũi giữa nhà chùa với cộng đồng. Và tôi cũng cảm thấy chạnh lòng bởi tất cả các kiến trúc, chỉ còn lại một tháp đựng di cốt được giữ nguyên nét rêu phong của thời gian. Còn lại là màu vàng, màu đỏ… được phủ lên các công trình trong chùa làm bật vẻ sặc sỡ giữa một không gian xanh cạnh vàm Ô Môn, sau khi trùng tu và được chứng nhận là di tích cấp quốc gia.

Du lịch, GO! - Theo Kim Dung (SGTT), internet

Thăm đồng muối Ninh Diêm

Nha Trang một ngày tháng 3. Ba giờ rưỡi sáng, khi không khí ngoài trời còn hơi se lạnh, tôi khoác vội chiếc áo dài tay, cưỡi chiếc gắn máy cà tàng chạy theo chiếc Vespa của anh bạn nhiếp ảnh.

Dọc đường Trần Phú về hướng bắc, chúng tôi vào quốc lộ 1A đi Ninh Hòa. Từ Ninh Hòa, đi về phía đông bắc, vào quốc lộ 26B, sau hơn chục cây số, chúng tôi vào làng sản xuất muối Ninh Diêm thuộc khu vực Hòn Khói, tỉnh Khánh Hòa.
Làng muối với những cánh đồng muối rộng lớn hắt lên màu sáng mờ của bầu trời lúc sáng sớm. Mặt trăng còn soi mình trên mặt ruộng nhưng hơi ấm đã bốc lên từ những cánh đồng muối khi càng đến gần.

Nghe những người dân làm muối kể lại, từ bao đời ông cha họ gọi tên nơi này là Hòn Khói, khi triều đình nhà Nguyễn dạy người dân đốt lửa trên đỉnh núi tạo khói để báo hiệu có giặc ngoại xâm cướp bóc.

< Đồng muối Ninh Diêm.

Hòn Khói, nằm bên vịnh Vân Phong, gần khu du lịch Dốc Lết, nổi danh nhờ muối lâu nay. Với ba mặt giáp biển, vùng đất nơi này ngập mặn không thuận tiện cho việc phát triển các ngành trồng trọt. Có lẽ vì thế mà hầu hết bà con nơi đây đều làm muối. Khi người Pháp chiếm Việt Nam, họ cũng khai thác muối và gọi nơi này là Hone-Coché.

Ngày nay, dù nhiều khu vực xung quanh đã có những công trình công nghiệp sản xuất hiện đại như nhà máy xi măng, nhà máy đóng tàu, Hòn Khói vẫn phát triển nghề làm muối, dù giá cả sản vật này cũng khiến diêm dân nhiều phen điêu đứng.


< Gánh muối từ ruộng lên bờ.

Tiếng nói chuyện rì rầm là âm thanh mà tôi nghe được khi đến gần cánh đồng muối đang được thu hoạch trước khi nhìn thấy bóng người. Hừng sáng phía đông rõ hơn, người dân và chiếc bóng của họ in trên mặt ruộng muối từ từ hiện ra trước mắt. Những cái dáng cong cong trên đồng muối, những đôi quang gánh trĩu nặng đang di chuyển từ ruộng lên bờ qua chiếc cầu dốc nhỏ.

Đàn ông thì cuốc, cạy những tảng muối dưới đáy ruộng rồi cào vun muối thành đống; chị em phụ nữ gánh muối ướt từ ruộng lên đổ thành từng đống trên bờ. Nhiều phụ nữ có số năm gánh muối nhiều hơn tuổi đời của tôi.

Lang thang ở cánh đồng muối, tôi chẳng nhìn rõ gương mặt của một phụ nữ nào trong cả trăm người đang chuyển muối lên bờ kia, nhưng những tiếng cười thì tôi nghe rõ. Tất cả đều trùm kín từ đầu đến chân nhưng ánh mắt lạc quan và tiếng cười vui vẻ là điều dễ nhận thấy nhất.


< Trời sáng tỏ thì chia phiên nhau ăn sáng.

Các anh các chị vẫn kể những câu chuyện cười, những câu đùa hóm hỉnh mà tôi nhớ từng nghe đâu đó, nhưng tiếng cười của tôi không sảng khoái như tiếng cười của người lao động nơi đây. Đống muối cứ chất cao dần như núi, và tiếng cười càng vang xa, tỉ lệ thuận với chiều cao của những đống muối.

Đếm bước chân cho mỗi vòng gánh, ước tính, họ cũng đi mỗi ngày vài chục cây số và gánh cả trăm gánh muối. Người vun cào cứ vun cào, người gánh cứ gánh. Những câu chuyện không đầu không đuôi mà tôi nghe được có đủ mọi thứ. Từ chuyện gia đình con cái, bạn bè người yêu, đến giá cả mớ rau, con cá tăng lên hàng ngày.


< Diêm dân mong ngày nắng vì đó là thời gian họ được làm việc và kiếm được tiền.

Trời sáng tỏ thì chia phiên nhau ăn sáng. Lúc này, tôi mới có cơ hội nhìn rõ ánh mắt long lanh trên khuôn mặt đẫm mồ hôi của từng người. Họ thay nhau giải thích những công đoạn biến những giọt nước biển thành những hạt muối trắng tinh trước mắt tôi.

Mùa làm muối ở Hòn Khói thường bắt đầu vào tháng ba dương lịch và kết thúc vào tháng 9. Thu hoạch muối là thời gian vui nhất vì đây là thời điểm có nhiều người làm chung. Cứ đào, cào, vun, gánh cho đến khi những tảng muối cuối cùng trên ruộng này hết, họ lại chuyển qua ruộng khác thu hoạch.

Ngày làm việc của họ bắt đầu từ ba, bốn giờ sáng và chỉ ngưng khi dọn hết cánh đồng muối. Dù nắng miền trung hắt cái nóng vào mặt những người lao động, bà con vẫn vui mừng hơn là chứng kiến việc trời chuyển mưa. Ngày nắng là thời gian người lao động thực sự được làm việc và kiếm được tiền từ việc làm muối.

Du lịch, GO! - Theo Kim Dung (Tinnong)

Món ngon của... rừng

Cư dân bản địa Tây Nguyên từ bao đời nay luôn sống trong sự đùm bọc, che chở của rừng.
Họ gọi rừng là “bà mẹ” đầy ân sủng, vì từ nguồn tài nguyên này đã cho con người ở đây nguồn sống dồi dào, phong phú.

Những mớ rau, mụt măng, đọt mây, trái cà đắng… từ lâu là nguồn lương thực không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày, và giờ đây, những đặc sản đó đang trở thành món ngon của rừng dâng tặng thực khách gần xa khi tìm đến với vùng đất Tây Nguyên.

Khó quên vị đắng đọt mây

Vị đắng khó quên từ những đặc sản của rừng mang lại không chỉ có cà đắng, măng le… vốn đã quen thuộc lâu nay, mà còn có những đọt mây mọc hoang chằng chịt trong rừng. Người ta chọn những đọt mây non tơ, bụ bẫm (dài khoảng ba bốn gang tay) mang về tước bỏ phần vỏ lá, sau đó nướng lên cho mềm rồi xé nhỏ từng sợi để nấu với nhiều loại thực phẩm khác như cá, thịt, mắm… đều tạo nên những món ăn ngon.

Đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên xưa thường nấu đọt mây với cá khô, thịt khô treo sẵn trên giàn bếp. Và cái thứ thức ăn (khô hoặc nước sền sệt) này cho người ăn vị đăng đắng khó quên. Nhiều người bảo ăn đọt mây vào sẽ trị được bệnh sốt rét, tiêu chảy đường ruột. Điều đó đã được kinh nghiệm thực tiễn từ đời sống ẩm thực của cư dân miền núi ngày xưa chắt lọc ra. Thật kỳ lạ: “kinh nghiệm” ấy là cả một sự khảo cứu, kết luận nghiêm túc của tri thức dân gian, bởi khi giở cuốn “Những cây thuốc Việt Nam” của giáo sư Đỗ Tất Lợi thì mới rõ rằng đọt mây rừng hàm chứa đầy đủ những dược tính trên.

Ngày nay món ăn đọt mây đã hiện diện trong các nhà hàng, từ bình dân cho đến sang trọng cũng nhờ sự kết hợp đặc biệt của nó-vừa là món ăn, vừa là vị thuốc trị bệnh công dụng. Xét về mặt văn hóa ẩm thực, đọt mây rừng không còn là món ăn dân dã, bình dị của thiểu số người sống và gắn bó với rừng, mà nó đã đi xa hơn và có mặt trên các bàn ăn đầy “cao lương, mỹ vị”. Này nhé: đơn giản thì đọt mây nấu với cá hộp, thịt hộp…hoặc xé nhỏ từng sợi làm gỏi gà, khô nai, khô cá, mực. Cầu kỳ hơn thì luộc lên cho bớt đắng, sau đó cắt nhỏ như hạt lựu hầm với các loại thịt.

Những món ăn được chế biến từ đọt mây đang trở thành “đặc sản” hấp dẫn thực khách tại nhiều khu du lịch, nhà hàng ở Tây Nguyên. Tại Dak Lak, bạn đến khách sạn Yang Sing, Khu du lịch văn hóa-ẩm thực buôn Akô D’hông, thậm chí Bạch Mã, Tuấn Đạt… đều có những món ăn này. Sang Khu du lịch Đồng Xanh (Gia Lai), Măng Đen (Kon Tum), hay về Gia Nghĩa, Nâm Nung (Dak Nông) thì đọt mây càng là sự chọn lựa không thể thiếu trong những bữa tiệc đãi khách phương xa. Thế mới biết từ sản vật của rừng đã cho con người nguồn sống đi cùng với cảm giác khám phá và thưởng thức nó thú vị và phong phú biết dường nào!

Ngọt bùi rau dầm tang

Rau dầm tang ẩn mình dưới suối vào sáu tháng mùa khô, đến mùa mưa lại cựa mình trỗi dậy. Những mầm rau xanh biếc, vươn dài như thể trong thời gian mùa khô nó đã tích tụ biết bao dưỡng chất của đất, của nước để dâng hiến cho con người có cái ăn dằn bụng trong những ngày dầm dề mưa rừng trút xuống. Cũng có lẽ sống cuộc sống như vậy, nên rau dầm tang trông nuột nà, mong manh hơn bất kỳ loại rau rừng nào khác. Cọng rau giòn dễ gãy, lá như lá răm và cũng dễ bị bầm úa, tổn thương, nhưng lại có vị ngọt bùi khó tả.

Dầm tang không dùng để ăn sống, mà phải nấu nhừ lên cùng nhiều loại thực phẩm dễ tìm kiếm trong rừng như măng le, củ mài và nấm. Khi ăn vào có vị bùi nơi đầu lưỡi, một lúc sau thấm ngọt nơi cổ họng. Có người bảo rau dầm tang trong rừng giống như cây cải cay ở trong vườn tược miệt đồng bằng vậy - một khi thưởng thức đều thi vị vì nó khai mở cho người ăn nhiều cảm giác: đắng - cay, ngọt - bùi…đều có cả.

Không nghi ngờ gì nữa, rau dầm tang không những là nguồn thực phẩm thông thường, mà còn là món gia vị của rừng ban tặng. Nấu bất cứ món gì được cho là đặc sản của rừng (từ măng le, củ mài, nấm…đến cá, thịt thú rừng các loại) đều không thể thiếu dầm tang. Tùy theo từng món ăn mà người ta cho vào lượng rau dầm tang ít hoặc nhiều. Chẳng hạn, để cho tô canh cá suối được thơm ngon hơn, chỉ cần thái nhỏ một nắm rau dầm tang bỏ vào (như hành ngò) là được.

Còn muốn có một nồi thịt (hoặc lòng) hầm lên béo ngậy và thơm lừng, phải cho thật nhiều dầm tang vào thì sẽ được như ý. Hơn thế, loại rau này là một phần không thể thiếu trong món muối chấm của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên xưa nay. Món muối chấm (với các loại thịt, cá nướng) ấy ngon đến nỗi các nhà hàng, khách sạn hiện nay đặt hàng từ các nghệ nhân ẩm thực người dân tộc thiểu số để đưa vào “menu” nhằm câu thực khách. Bất kỳ ai được thưởng thức một lần đều không thể nào quên mùi vị rất riêng và độc đáo của nó.

Đến bây giờ, trong những ngày mưa, đâu đó trên các ngả đường Buôn Ma Thuột, vẫn dễ bắt gặp những người đàn ông, đàn bà từ Buôn Đôn, Cư M’gar hoặc xa hơn nữa là Ea Súp ra phố, chở theo những bó rau dầm tang để bán dạo. Họ vừa đi vừa rao: Ơ…! dầm tang, dầm tang…

Du lịch, GO! - Theo Phương Đình (Đák Lắk Online), ảnh internet

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Những nẻo đường Tây Nguyên (1): Gia Lai

Lang thang qua những nẻo đường của quê hương, bám đèo leo núi, để chỉ lặng mình nhìn trời nhìn đất, lặng ngắm cảnh đẹp hoang sơ của núi rừng đất nước. Lặng im trong tình người mộc mạc thiết tha, để cảm nhận được đất nước mình vẫn còn thật nghèo, nhưng đẹp biết bao. VYSA xin được giới thiệu đến các bạn loạt bài nhật ký lữ hành qua các vùng đất Tây Nguyên của bạn Haggard04. (Ảnh minh họa do bạn Iceberg đóng góp)

Giở nhật ký lữ hành ra và đọc lại, thấy nhớ những chuyến đi, nhớ những vùng đất từ tấp nập đến heo hút, từ phồn hoa đến nghèo khó, từ nguyên sơ đến hiện đại. Những chuyến đi không chỉ là lang thang nhìn cảnh, nhìn người mà còn để thêm hiểu, thêm yêu từng mảnh đất đã đi qua.

Mình muốn viết về những vùng đất ở Việt Nam, những vùng đất mình đã đi qua, những vùng đất đã mang lại cho mình rất nhiều cảm xúc, ghi lại những ngày tháng sôi nổi đã qua.
Gia Lai (tháng 6,7, 8/2005)

Nhận được thông báo đi Gia Lai tiền trạm, mình háo hức vô cùng, Tây Nguyên hùng vĩ, Tây Nguyên hoang sơ, nơi Biển hồ lộng gió và xanh biếc như cặp mắt của thiếu nữ Bana. Tây Nguyên trong trí tưởng tượng của mình là như vậy.

Xe khởi hành lúc 7h30 tối, đoàn đi có 6 anh em và chú lái xe là thiếu tá quân đội về hưu vui tính. Dọc con đường Bình Phước lầy lội, trời mưa tầm tã, tối mù mịt, sự háo hức ngắm cảnh dọc đường của mình bị nhấn chìm, co gối lại và ngủ.

Mưa tạnh, trời trong sáng đến lạ, tưởng đã sáng nhưng xem đồng hồ mới có 3h, ngạc nhiên và thích thú nhìn ra cửa kính. Trăng sáng, sáng lấp lánh trên đầu, trăng mềm mại chiếu khắp đồi núi gập gềnh, ánh trăng lẫn trong sương núi giăng ngang xe, lùa cả vào trong xe mang lại hương đêm lành lạnh và trong lành. Trăng bạc ngập trong sương bạc, giăng giăng từng ngọn thông thẳng tắp, cảnh đẹp hơn cả sự mong đợi của mình.

Sáng 6h tới Pleiku, không khí cao nguyên dễ chịu trái ngược với cái nắng tháng 6 gay gắt của Sài Gòn. Ăn sáng xong chị bí thư tỉnh đoàn đưa xuống Kongcharo va Iamron- 2 huyện khó khăn của tỉnh. Xe bám đèo chạy quanh những khúc cua đầy thử thách. Đường hẹp mà xe cứ lao băng băng, môt bên là núi cao, một bên là vực thẳm, cả trăm km.

Từ Pleiku xuống đến Kongcharo (Kon Chro?) khoảng 120km hầu như đường đèo núi, chỉ đi qua 2 thị trấn nhỏ, muốn mua thêm một cuộn phim mà cũng không có (hic, cái máy ảnh kĩ thuật số lại hết phin). Đến Kongcharo thì bác bí thư huyện đoàn đã ngồi cạnh một nâm cơm …cây nhà lá vườn bao gồm gà rừng nướng, một số món đặc sản và…chịp! một ghè rượu cần loại rượu bobo ủ đủ ngày đủ tháng mới lấy trong bản ra!

- Ôi cái ông này, vừa mới xuống đã bắt uống rượu thì vào bản sao nổi – chị bí thư tỉnh đoàn đon đả
- Ơ, cái con mụ này! Tau là tau đãi cán bộ chứ có đãi mầy đâu _anh bí thư…đẹp trai lên tiếng.

Quái! Cái ông này mà người dân tộc á, chưa kịp thắc mắc thì ông ấy đã cười khì khì đứng dậy chào đoàn bằng giọng Bắc rất chuẩn và nhìn cái mặt ngẩn tò te của mình rồi phán “đội trường mà bé như con cá cảnh thế này thì phải cẩn thận đấy”

- Em chả sợ – mình nhe răng cười

Hỏi tới hỏi lui, hoá ra lại là bác đống hương với mình, lại chưa vợ, chịp! chịp!
Lùa vội ..mấy miếng thịt gà, sếp nói, ghè này khi làm việc xong thì chiến đấu, giờ trưa rồi, không nhanh vào đến bản thì tối mất.

Gớm thật, cái tiết trời Gia Lai nó như lừa người ấy, sáng mới mát mẻ thế mà đến trưa thì nóng như lửa đốt, đang hí hửng được chui lại vào xe máy lạnh mát rượi thì bác huyện phán câu xanh rờn “Cái con xe đại tiểu thư này không lết nổi vào bản đâu, anh em mình đi xe Jep thôi”. Vậy là 6 anh em cộng thêm anh tài, anh huyện và chị tỉnh nữa tha nhau lên một con xe mà cứ xóc một cái là có nguy cơ bị bắn ra ngoài, người chen người, mỡ của cả đoàn là thi nhau chảy xối xả.

Xe lướt đi trong cái ngột ngạt khủng khiếp ấy với tốc độ khoảng 12km/h, đường chưa làm, toàn đá mẹ đá con (mà đá con là con khủng long của đá mẹ) khi xe xuống suối cạn thì anh em nín thở sợ…trượt mà xe lên dốc suối thì anh em lại nín thở sợ lật. Lê lết thế nào mà cả đoàn vẫn còn sống đầy đủ khi vào đến xã Đaksông. Vừa vào đến mấy nương đầu xả thì mình đã thấy thấp thoáng mấy bác…mặc khố lấp ló trên những …thửa đất cao cao, thề là cao quá nên mình…chả thấy gì hết, hehe.

Vào đến xã, mấy bác xã nói một hồi mặt mình ngu hẳn, chả hiểu nói gì, anh huyện nhe răng cười “Ơ, cái cô này, tiếng kinh mà còn không hiểu hay anh bảo nói tiếng Bana nhá” . Cuối cùng nhờ sự nỗ lực hết mình, mình cũng nghe được rằng các chú ấy muốn …mời cơm! sướng thế chứ, tới đâu cũng ăn, mà không ăn thì sợ…người ta buồn.

Anh huyện phán: – giờ đi xem tình hình mấy bản quanh đây đã, chiều tối về rồi ăn, mà mấy ông cũng đừng bày vẽ thịt gà làm gì, đoàn hôm nay chỉ thich ăn món đặc sản chỉ có ở vùng này thôi.

- Khong an ga thi may bao lam mon gi (là các bác ấy nói không dấu đấy nhá)
- Cán bộ hôm nay chỉ thích món lòng gì xào cà đắng thôi.
Khổ thân các bác xã thật thà, không cho làm thịt gà thì ở cái xử không chợ này kiếm đâu ra lòng gà cho cán bộ xơi, đấy, cái thâm thuý của bác huyện là như thế đấy!

Nói thì nói vậy, cả đoàn không nhận lời ăn cơm ở Đaksông vì từ 2h chiều đến tối phải đi hết 2 xã nghèo nhất huyện là Đaksong và Sơró. Cả đoàn ì ụp lội qua con suối trong vắt và mát lạnh để đi sang bản Kso. Nước trong quá, lại đang khát nước tính vục một ít nước lên uống thì anh “thanh niên địa phương” đã cản lại “uống là bị sốt rét rừng đấy” – hết dám ho he!

Sang đến bản, một bày trẻ con lếch thếch kéo đến vây quanh, theo đoàn tới nhà rông. Nhà sàn của người Bana thấp nhưng dài, nhà rông cũng vậy, đây là nét đặc trưng rất dễ phân biệt với các dân tộc khác, thường thì chỉ 3 bậc đến 5 bậc là tới sàn. Nhà rông của bản Kso vẫn còn giữ được nguyên hiện trạng truyền thống với lối kiến trúc đơn giản, trang trí thú sơ sài (một cái đầu khỉ ở cột) bên trong là những cây nêu, những phiếm gỗ rât lớn vẽ hình và được gọi là khiên. Một bếp lửa lớn giữa sàn nhà cạnh bếp là một cửa thông nhỏ (như cửa sổ).
Nhìn qua lớp ván gỗ, mình rợn cả tóc gáy khi thấy nhiều cỗ quan tài lớn nhỏ khoét từ những thân cây lớn mà thành. Nhìn kĩ thì mới thấy đều là quan tài rỗng, chắc là để dành khi “hữu sự”.Đi một vòng quanh làng, thấy nhà nào cũng khoét sẵn mấy cái cỗ quan, khi chưa dùng để đựng ngươi thì đồng bào ta đựng..nước uống!

Nắm được sơ qua Kso, đoàn hành trình lên Kte. Làng này nghèo nhất xã, xã lại nghèo nhất huyện, mà huyện anh hùng Kongcharo thì lại nghèo nhất tỉnh. Vậy nên theo logic mà suy ra thì cái lòng Kte nghèo nhất tỉnh, một trong những cái tỉnh nghèo nhất nước! Mấy chục móc nhà sàn xiêu vẹo, nhà rông cũng tiêu điều, xơ xác, bà con Kte sống lại xa nguồn nước, muốn đi lấy nước phải xách gùi hơn 3km. Anh huyện cảnh báo, Kte là một làng nhạy cảm nhất do địa hình heo hút, trong làng chỉ 1,2 ngươi nói được tiếng Kinh, bà con lại thật thà như đếm, nếu gặp một chút phật lòng thì hậu quả rất đáng tiếc – một nét gạch đỏ trong sổ – bà con thương mình là được rồi.

Lấn cấn mãi, trời tối, biết là không xong việc nhưng không muốn phiền bà con, cả đoàn kéo nhau về huyện. Lòng mình ngổn ngang lo lắng suy nghĩ, có lẽ nhờ vậy mới không chết khiếp cái con đường nguy hiểm mà xe đang trèo, đang bò từng km.

Còn tiếp
Những nẻo đường Tây Nguyên (1): Gia Lai
Những nẻo đường Tây Nguyên (2): Pleiku
Những nẻo đường Tây Nguyên (3): Rượu Ghè Bana
Những nẻo đường Tây Nguyên (4): Núi rừng Tây Nguyên
Những nẻo đường Tây Nguyên (5): Kongcharo
Những nẻo đường Tây Nguyên (6) : Đà Lạt

Haggard04
Du lịch, GO! - Theo Vysa, ảnh bổ xung từ internet

Biển trời địa đầu Sa Vĩ

Nếu vẽ bản đồ Việt Nam, có lẽ nơi đặt nét bút đầu tiên chính là mũi Sa Vĩ thuộc Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh). Trải qua bao thăng trầm cùng dân tộc, điểm đầu Sa Vĩ vẫn hiên ngang như một minh chứng trường tồn trước thời gian:
“Hùng vĩ thay toàn thân đất nước,
Tựa Trường Sơn vươn tới Trường Sa.
Từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước,
Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa...”.

Sa Vĩ không chỉ nổi tiếng với 2 câu thơ của Tố Hữu: “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước/ Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa...” mà còn có ý nghĩa đặc biệt về biên giới lãnh thổ: Nếu điểm cực Bắc biên giới đất liền thuộc xã Lũng Cú (Đồng Văn, Hà Giang), thì đường biên giới biển khởi đầu tại Sa Vĩ.

Tại Sa Vĩ, do cột mốc 1377, 1378 phân định biên giới Việt Nam - Trung Quốc nằm ở cửa sông Bắc Luân, khi thủy triều dâng lên mốc cách bờ hàng trăm mét nên hầu hết du khách khi đến đây đều lấy biểu tượng 3 ngọn phi lao trên bức phù điêu dựng ngay trên bờ biển để chụp ảnh với niềm tự hào đã đến nơi địa đầu Tổ quốc.

Trong quá trình phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nếu như cột mốc đầu tiên trên tuyến biên giới đất liền (ký hiệu 1369) tại đầu cầu Bắc Luân (Móng Cái, Quảng Ninh), khánh thành vào tháng 12-2001, thì cột mốc cuối cùng (1378), mặc dù cũng chỉ đặt tại Trà Cổ (Móng Cái), nhưng mãi đến tháng 11-2009 mới được hoàn thành.

< Biển Sa Vĩ, cột ngoài khơi là cột mốc biên giới Việt - Trung trên biển.

Đến Sa Vĩ - Trà Cổ tận mắt nhìn, lắng tai nghe những câu chuyện có thật do những người dân nơi đây kể, ta lại càng thấy yêu mỗi tấc đất quê hương mà cha ông ta bao đời phải chiến đấu, hy sinh máu xương để gìn giữ cho đất nước. Gánh chịu bao nhiêu khốn khó nơi địa đầu Tổ quốc trong những năm tháng chiến tranh, người dân Trà Cổ vẫn kiên trì góp sức bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc...

Còn bây giờ vùng đất này đã đổi thay nhiều, các khu du lịch mọc lên như nấm trên những đồi cát trắng mịn. Khách du lịch các nơi nườm nượp đổ về để 'cảm' với cái gió Sa Vĩ là gió vi vút từ biển thổi vào, gió rì rào những hàng dương trên cát trắng. Sa Vĩ đón chào du khách với bức phù điêu xanh hình ba ngọn phi lao vươn thẳng lên trời mà hầu như ai đặt chân tới vùng đất thiêng này, dù chốc lát đều muốn được ghé lại lưu giữ hình ảnh của mình.

Xa xa trên biển, cột mốc biên giới Việt-Trung đánh dấu chủ quyền hai bên, trầm ngâm sóng đánh. Nhìn xa hơn, vào những ngày trời trong biển lặng, có thể nhận ra hình hài nhấp nhô của làng Việt cổ Vạn Vĩ, nơi những người Việt ở Đồ Sơn (Hải Phòng) đã đến định cư suốt 500 năm nay. Nhiều người trong số họ đã trở về Sa Vĩ để thấy mình “cùng đón bình minh và cùng ngắm hoàng hôn” với Vạn Vĩ. Nằm cạnh đường ô tô ra biển, nhà thờ Trà Cổ - điển hình của phong cách kiến trúc châu Âu, đẹp một cách cổ điển giữa những làng mạc dân dã.

Đứng ở mũi Sa Vĩ địa đầu Tổ quốc, phóng tầm mắt ra xa có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp của bờ biển Trà Cổ cong và dài 17 km. Trà Cổ được mệnh danh là bãi tắm dài và lãng mạn bậc nhất Việt Nam. Những dự án du lịch, vui chơi giải trí lớn nhỏ xuất hiện giữa làng chài. Nhiều gia đình bị cuốn vào cơn lốc hội nhập, vội vã bỏ chài lưới vào gác bếp, lao vào làm du lịch những mong đổi nghề, đổi đời.

Sa Vĩ ngày nay không chỉ có cát, cá tôm mà còn có cả sân golf, khách sạn. Đất đai bên đường từ Móng Cái vào Trà Cổ tăng giá vùn vụt. Nhiều dự án du lịch, vui chơi giải trí lớn nhỏ được khoanh đỏ trên tấm bản đồ làng biển. Trà Cổ từ một xã thuần nghề ngư, đến nay trên 60% số gia đình trong phường Trà Cổ đã biết làm du lịch và dịch vụ. Hiện làng biển có khoảng 45 nhà nghỉ đang hoạt động với gần 600 phòng với mức doanh thu tăng đều mỗi năm.

Khách tắm biển dù không nhiều nhưng đủ để rực rỡ sắc màu trên cát trắng như một điểm nhấn hiện đại. Nhà hàng bên bờ biển Trà Cổ nằm rải rác, giá cả dễ chịu, không “chặt chém” như các nơi khác. Những bữa tiệc hải sản bên bờ biển, gồm những tôm, ghẹ, bề bề, ốc, mực... có dư vị khó tả, vì sự tươi ngon của thực phẩm, sự niềm nở của người bán và cả không khí trong lành, thuần khiết của một vùng biển chưa mất hẳn chất dân dã.

Người dân Trà Cổ vẫn còn lưu giữ ngôi đình có niên đại hơn 500 năm. Cụ già trông đình có tên gọi Vũ Tiến Nồng kể rằng: ngôi đình là tài sản vô giá mà cha ông từ 500 năm trước đã để lại. Đình được xây dựng từ thời hậu Lê (thế kỷ XV). Mặc dù được xây dựng tại vùng biên giới giáp với Trung Quốc nhưng đình Trà Cổ hoàn toàn mang phong cách kiến trúc Việt Nam, mang đậm chất văn hóa của người Việt, không hề lai căng pha tạp đồng hóa với kiến trúc Trung Hoa, điều này càng khẳng định rằng cha ông ta ngày xưa đã rất coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc.

Mặt bằng đình theo kiểu chữ Đinh, tiền đường gồm 5 gian, 2 trái, hậu cung có 3 gian. Mái đình hơi võng, lợp ngói mũi giống như những ngôi đình của các làng quê đồng bằng sông Hồng. Đình gồm 48 cột lim đặt trên tảng kê bằng đá xanh. Cột cái cao 4,65 mét, chu vi cột 1,63 mét. Đình còn có 2 cột bằng đá nguyên khối cao hơn 2 mét.

Trong đình còn hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng đã xám màu thời gian, trên đó khắc: Địa cửu thiên trường (đất vững, trời dài) và Nam Sơn tịnh thọ (nước Nam bền vững); một bộ kiệu bát cống, 8 long ngai, 02 hạc rùa, một bộ bát biếu, 01 bộ thất sự bằng đồng, 05 bức đại tự, 05 cửa võng... đều được chạm khắc công phu, sơn son thếp vàng và nhiều hiện vật có từ thời Lê, Nguyễn. Đình được trùng tu, sửa chữa nhiều lần để thờ thành hoàng làng là 6 vị tiên công có công xây làng, lập ấp.

Theo các bô lão trong làng truyền lại, thì tổ tiên xưa vốn là người Đồ Sơn (Hải Phòng) làm nghề đánh cá. Trong một lần đi biển, gặp sóng to gió lớn, 12 gia đình đã trôi dạt vào đây. Trước cảnh hoang vu, chỉ toàn sú vẹt, lau sậy cùng những đồi mua, đồi sim, có 6 gia đình đã chán nản nói: "Ở đây ăn bổng lộc gì?/Lộc sim thì chát, lộc si thì già". Nhưng 6 gia đình còn lại lại lạc quan, tin tưởng vào vùng đất tuy vắng vẻ nhưng khung cảnh đẹp, nên đã trả lời: "Ở đây vui thú non tiên/Tháng ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau". 6 gia đình ra đi, 6 gia đình ở lại khai phá miền đất mới, sinh làng lập ấp..."

Rời làng biển, vẫn con đường thẳng tắp tràn ngập vị mặn mòi của biển, trước mặt chúng tôi chính là mũi Sa Vĩ. Tấm biển “Vành đai biên giới” nằm ngay cuối con đường, nơi nhô ra phía biển như ngón tay chỉ về đại dương xa ngút mắt. Ngay chót mũi Sa Vĩ, phía tay trái có một mảnh vườn nhỏ trồng rất nhiều cây. Đó là khu vườn do các nguyên thủ quốc gia trồng khi về thăm điểm đầu tiên của dải đất hình chữ S. Chúng tôi ngắm những hoa sim, hoa mua như cũng tím hơn trong chiều biên giới, giẫm chân lạo xạo trong bùn cát và hưởng trọn nắng gió biển trời Sa Vĩ.

Mũi Sa Vĩ ngày trước chỉ có bộ đội biên phòng ngày đêm tuần tra bảo vệ và người dân trong vùng qua lại đánh cá bắt tôm thì nay cũng trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và cả ngoài nước. “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước”. Nhúm một nhúm cát, nhặt lên một hòn đá cuội, nắm chặt trong tay mình để thấy cát và đá cũng ấm tình Tổ quốc. Tôi mang hai vật ấy cất vào ba lô mang về đặt lên bàn làm việc. Tôi tin chắc rằng, mỗi khi nhìn thấy cát và đá tôi lại nhớ về Sa Vĩ, nhớ về Trà Cổ, về nơi đã lưu giữ một phần tâm hồn mình, để lại nhen nhóm và thu xếp thỏa mãn khát vọng lên đường khám phá những mũi Cà Mau, cột cờ Lũng Cú, những điểm cực khác của Tổ quốc mình và trân quý hơn những vẻ đẹp muôn hình muôn sắc khắp dải đất hình chữ S thân yêu.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ internet

Trà Cổ nằm ở cực Đông Bắc đất nước thuộc tỉnh Quảng Ninh, kề sát biên giới Trung Quốc, cách thị xã Móng Cái và cửa khẩu Móng Cái chừng 10km.

Có thể đến Trà Cổ bằng nhiều cách khác nhau. Bằng ca nô hay tàu thủy chạy từ Hải Phòng đến Móng Cái với quãng đường hơn 200 km hoặc từ Hòn Gai với hành trình 132km, bạn sẽ đến bãi biển Trà Cổ. Nếu bạn đi đường bộ thì có thể lên ôtô từ Hà Nội, theo đường 18, Hà Nội - Hòn Gai đến Tiên Yên rồi rẽ đường số 4 đi thị xã Móng Cái để ra bãi biển Trà Cổ...

Nhớ con cá đối

Không “nhớ” sao được khi con cá đối đã trở thành món ăn, lại là món ăn ngon. Xưa kia, quê tôi nằm sâu trong đất liền, lại là một vùng đất nghèo nàn, đường sá đi lại rất khó khăn. Nơi này muốn có con cá đồng đã khó, huống gì có được con cá biển của một vùng “khơi xa”. Cho nên, khi có dịp “tiếp cận” với con cá đối lần đầu tiên trong đời, tôi đã “bàng hoàng” bụng dạ.

Lần đó, tôi đến nhà người bạn ở một miền duyên hải Trà Vinh và được chị ấy đãi một món ngon nhớ đời từ con cá đối.

Tôi đến thăm chị bất ngờ, lại nhằm lúc gia đình chị sắp dùng bữa. Gia đình chị mời ăn, là người Nam bộ, tôi không chối từ một cách khách sáo. Là bữa cơm gia đình nên chỉ có vài món thông thường, nhưng tôi đặc biệt chú ý đến một tô cá ở một góc bàn, lúc nào cũng tỏa một mùi vị là lạ.

Gắp một đũa, cho vào miệng, chưa kịp nhai, tôi đã “nghe” món ăn hình như chạy tuột xuống tận dạ dày với mùi thơm, vị cay, vị mặn của tiêu hành tỏi ớt, đặc biệt là vị ngọt của thịt cá. Thịt cá bở mà không mềm, mềm mà không nát, cứ như miếng thịt cá mòi “tan rã” trên đầu lưỡi tôi. “Lợi dụng” là chỗ hết sức quen thân, nên tôi không cần giữ gìn ý tứ gì cả, cứ việc gắp món ngon.

Khi đã thỏa mãn cái dạ dày rồi tôi mới hỏi chị bạn đó là món chi. Chị ấy thản nhiên cho biết đó là món cá đối hấp. Theo chỉ dẫn của chị, để có món cá đối hấp, cần có những con cá thật tươi. Cá làm sạch, cho vào tô, ướp tiêu, tỏi, hành tím bằm, đường, nước mắm, bột ngọt… rồi cho vào nồi. Hấp cách thủy trên ngọn lửa riu riu chừng vài tiếng đồng hồ là đã có món ăn.

Lần thứ nhì, vào dịp cận Tết Nguyên đán, tôi đi Gành Hào (Bạc Liêu) thăm người bà con. Trong bữa cơm bình thường của gia đình chị, tôi chú ý nhất đến tô canh cá đối hầm dưa cải. Dưa cải ở đây được muối tại nhà nên có vị chua và giòn mà dưa cải ngoài chợ không thể sánh bằng. Vị chua của dưa cải hòa cùng vị ngọt của những con cá đối bự cỡ cườm tay vừa mới bắt lên từ biển sao mà ngon ngọt quá chừng.

Thịt cá nhừ mà không nát. Dưa cải mềm mà không nhũn. Lại còn cái mùi hành lá thoang thoảng thơm nữa chớ. Húp một muỗng canh khoái bao nhiêu thì chan nước canh vào cơm, lùa miếng nào nuốt gọn miếng nấy mới đã đời!

Lần thứ ba là lần ra miền biển trong khá nhiều lần trong đời của tôi. Đó là chuyến đi thăm Mũi Cà Mau - một mũi đất thiêng liêng rất nổi tiếng của nước ta. Đến Cà Mau nhiều lần, được thưởng thức không ít những hàu, vọp, cá chốt, cá nâu, cá khoai, cá dứa… chế biến thành nhiều món, món nào cũng để lại dư vị hoài cảm trong tôi. Lần này, vào buổi trưa, lại nhằm lúc nhà hàng thủy tạ nơi Mũi Cà Mau quá đông khách, kêu món đặc sản nào cũng được trả lời gọn lỏn: “Thưa, hết”. Hỏi gằn thì còn mấy con ghẹ đỏ và khoảng chục con cá đối để chiên xù.

Ờ, thì ghẹ luộc và cá đối chiên xù vậy. Dĩa ghẹ đỏ luộc dọn ra. Ghẹ đỏ tuy không ngon bằng ghẹ xanh, nhưng vì đói bụng nên cũng ngon. Nhưng ngon quá xá lại là món cá đối chiên xù. Món này làm dễ. Mấy con cá đối làm sạch ruột, rửa sạch, để ráo rồi thả vô chảo dầu đầy. Trong chốc lát thân cá trở màu vàng với những chiếc vẩy cá “xù” lên.

Chỉ có vậy mà khi dẽ thịt cá chấm nước mắm nhĩ giằm trái ớt hiểm cho vô miệng, nhai, ngon ơi là ngon. Thịt cá ngọt lừ, còn xương và vẩy cá thì giòn tanh tách như nhảy múa trong răng. Càng ngon hơn khi ăn với cơm nóng còn tỏa hơi nghi ngút.

Chỉ với ba món thôi, cá đối đã nằm sâu trong ký ức ẩm thực của tôi, không thể phai mờ. Những buổi chiều mưa lất phất, trời đất lành lạnh, là lúc tôi nhớ tới những con cá đối. Trời đất như vầy, nếu được ăn cơm với một trong ba món vừa kể, có thể nói không hạnh phúc nào sánh bằng.

Du lịch, GO! - Theo Phương Kiều (Haugiang online), internet