Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Làng trầm ở “xứ trầm hương”

Có nhiều lý do khiến tôi tìm gặp “dân làng trầm” ở  xóm Đồn, thôn Phú Hội 1, xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh thuộc “xứ trầm hương” Khánh Hòa giữa lúc cơn sốt “ngậm ngải tìm trầm” náo loạn những cánh rừng nguyên sinh phía tây thung lũng Ô Kha.

Xứ trầm hương

Hàng trăm năm trước, ở Vạn Ninh có nhiều làng, xã nổi tiếng thạo nghề đi địu, dân chúng quanh năm len lỏi khắp núi cao, rừng thẳm tìm kiếm trầm kỳ để cống nạp cho triều đình. Nhưng đến thời điểm này, duy nhất ở xóm Đồn vẫn còn 90% số hộ sống chết với nghề đi địu và không ít gia tộc phất lên  nhờ nghề gia công chế tác trầm hương mỹ nghệ.

Sách Đại Nam nhất thống chí, phần viết về thổ sản của Khánh Hòa ghi: “Vùng núi các huyện đều có kỳ nam và trầm hương, dân xã An Thành, huyện Tân Định hằng năm đi kiếm để nạp, năm nào không có kỳ nam thì nạp thay bằng trầm hương”.

< Những cây dó to cao thế này ngày càng hiếm hoi.

Những năm cuối thập niên thứ 6 của thế kỷ trước, nhà văn-nhà thơ Quách Tấn đã dành nhiều công sức “lên rừng, xuống biển” để hoàn thành công trình biên khảo “Xứ trầm hương”; ông khẳng định có một thời, “hễ nói đến trầm hương là nói đến Khánh Hòa và nói đến Khánh Hòa là nói đến trầm hương”.

Trầm hương của Khánh Hòa tập trung nhiều trong những cánh rừng nguyên sinh ở phía nam đèo Cả, chạy dọc theo dãy Trường Sơn Đông, thuộc địa lâm phần của các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, Khánh Vĩnh... nhưng nổi tiếng nhất là vùng Hòn Chảo ở Tu Bông, Vạn Giã (huyện Vạn Ninh). Đến bây giờ, những xóm làng trải rộng dưới chân đèo Cả vẫn lưu truyền câu ca dao: “Cây quế thiên thai mọc bên khe đá/ Trầm Vạn Giã hương toả sơn lâm”.

Gặp tôi ở Vạn Giã, ông Sáu Mùi tự hào “có kinh nghiệm ba đời đi địu”, khẳng định: “Đi địu cũng như hái củi, đốt than... khổ quá thì bà con rủ nhau lên rừng tìm kế sinh nhai chứ làm gì có ai bày dạy mà biết ông tổ nghề. Cha con tui đi riết thành quen, làm hoài thành thạo, nghề này chỉ cần có sức khỏe và kiên nhẫn chịu khó, chịu khổ... Không “nếm mật, nằm gai” làm sao hái được lộc trời?”.

< Một thời dọc ngang, nay ông Trần Ngọc An thấy "không nghề gì sướng bằng nghề xoi trầm".

Trước năm 1975, dân các xã Vạn Ninh lên núi tìm trầm đông lắm. Nhiều đại gia đình khăn gói ra tận La Hai, Xuân Lãnh (Phú Yên), An Khê (Bình Định), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Quế Sơn, Trà My (Quảng Nam)..., dựng lán trại, trụ lại hàng tháng trời giữa “rừng thiêng, nước độc”; lùng sục khắp núi cao, vực sâu; vạch từng rễ cây để tìm kiếm trầm kỳ. Nhưng “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Nhiều người đi địu gặp thú dữ hoặc bị lạc, bị thương hàn, sốt rét ác tính... không về, anh em họ hàng quá sợ mà bỏ nghề.

Chuyện xưa, chuyện nay

Vì sao mấy năm gần đây liên tục “sốt trầm kỳ” và cơ duyên nào xui khiến cả làng sống chết theo nghề đi địu? Ông Hùng - dân xóm Đồn chính hiệu - giải thích: “Bụng đói, đầu gối phải bò”, thời buổi kinh tế suy thoái, đồng tiền mất giá mà giá cả liên tục leo thang; đang túng thiếu, nghe đồn có người đổi đời nhờ tìm được trầm kỳ, ai mà không ham? Lâu nay dân xóm Đồn vẫn lai rai kiếm được lộc trời, nên không ai phụ nghề!”.

< Gia công trầm hương mỹ nghệ tại xưởng ông Hùng.

Lại nhớ, năm ngoái, ma lực trầm kỳ cuốn hút hàng ngàn người, bất kể đàn ông hay đàn bà, hối hả bỏ làng lên rừng, lãnh đạo huyện Vạn Ninh phải chỉ đạo các đoàn thể tập trung vận động, bà con mới trở về sản xuất vụ mùa. Trước khi đến Vạn Thắng, tôi đã nghe mấy bác ở huyện ủy kháo rằng, tuần trước có bầu (nhóm) dưới xóm Đồn rinh được gốc kỳ nặng 1,2 cân, bán được hơn 1,5 tỉ đồng. Nhưng, vào làng chỉ thấy vắng lặng, nhà nhà đóng cửa, hỏi thăm những người cần gặp đều “bận việc, đi xa!”.

Biết người lạ muốn tìm hiểu thông tin về làng trầm, chị Hai Thơ bán quán ven đường, nhẩn nha hát: “Con đi bảy chuyến điếng bugi/Bà, cậu trên cao thấy những gì/Dưới suối con đang hì hục lội/Trên đồi con dậm toát mồ hôi..” và nói to: “Rộ tin đồn, mọi người đua nhau lên Khánh Sơn. Nếu trúng hàng, phải làm lễ tạ ơn và khao cả làng, đông vui như đám cưới. Muốn biết chuyện xưa, chuyện nay, cứ hỏi ông Hùng, “cao thủ” đó!”.

< Nhẹ nhàng cẩn thận ngón tay, nếu như không khéo, sẽ bay áo trầm.

Thì ra, những người đàn ông trong gia đình ông Hùng từng lặn lội khắp những “con đường trầm”, từ Khánh Vĩnh, Khánh Sơn vào Bác Ái (Ninh Thuận), lên Đak Glei (Kon Tum), ra Đồng Xuân (Phú Yên), An Lão (Bình Định), Trà My (Quảng Nam)...

Ông Hùng kể: “Không ai cả gan một mình đi tìm trầm. Thường thì anh em dòng họ hoặc bà con xóm giềng rủ nhau lập bầu cặp đôi, cặp ba. Cha con tui đi địu từ hồi trước giải phóng, chưa bao giờ về tay không. Nhiều lần trúng đậm kỳ nam, chia nhau mỗi người cả chục cây vàng. Nhưng ai cũng “điếng bugi” vì bị sốt rét hành hạ đến vàng mắt, vàng da. Bởi vậy, gom được khoản vốn kha khá, anh em tui chuyển sang buôn bán trầm và mở xưởng gia công trầm hương mỹ nghệ”.

Dẫn tôi đến bên mấy bao tải đựng đầy gỗ dăm xỉn màu và phảng phất mùi trầm, ông Hùng nói: “Đây là hàng xô, dùng để làm nhang (hương), giá chỉ 200 ngàn/kg. Nếu phân loại theo công dụng và giá trị kinh tế thì có đến hàng chục thứ hạng. Những người buôn kỳ thường căn cứ màu sắc để xác định - “nhất bạch, nhì thanh, tam huỳnh, tứ hắc”.

Bạch kỳ cực kỳ quý hiếm, có tiền tỉ chưa chắc đã mua được. Dân đi địu ở Khánh Hòa tin rằng trầm hương là hiện thân Bà mẹ xứ sở Thiên Y A Na, bà không thương thì của để trước mặt cũng không nhìn thấy. Trước ngày vào rừng, mọi người tắm rửa sạch sẽ, đi đường không dám nói to, tránh từ húy kỵ, luôn luôn cầu nguyện bà và cô, cậu..”.

Lên rừng, những người đi địu có một nguyên tắc bất thành văn, hễ tìm được cây dó già, lá vàng, thân nhỏ, nhiều u bướu, biết có trầm thì bầu phải lập đủ 15 bàn cúng, cầu xin Cửu thiên huyền nữ, Thiên y thánh mẫu, Sơn lâm chúa tướng, Tam cõi hội đồng, Sơn thần thổ địa, Âm binh bộ hạ... rồi mới hái lộc. Nếu thấy cây dó trọc lá, không còn giác, bầu phải lập am thờ bà trước khi xuống rìu.

< Chế tác trầm hương từ dó vườn đang là ngã rẽ đổi đời của xứ trầm.

Người xưa đi địu không bao giờ  đốn hạ cây dó bầu mà công phu tỉa gọn những chỗ có trầm dù ở thân hay rễ; đối với cây non, họ cẩn thận chành vài nhát (mở miệng) tạo vết thương để nuôi trầm. Thời nay, người đi địu rất xô bồ, họ không chỉ chặt cây mà còn đào xới, lật tung gốc, rễ; đó là chưa kể có người ham hố nhổ bật cả dó bầu non.

Trầm hương mỹ nghệ

Trầm hương sinh ra từ cây dó bầu, nhưng không phải cây dó bầu nào cũng  sinh trầm. Ông Hùng kể tiếp: “Có lần chúng tôi đứng trước khu rừng dày đặc dó bầu, nhiều cây đã lớn mà chẳng hề thấy dấu hiệu của trầm”.

Nói đoạn, ông cho tôi xem thân cây dó bầu màu trắng ngà, cao khoảng 5 mét, vết thương cách đều, đẹp như tác phẩm điêu khắc, rồi giải thích: “Có 3 loại dó: Dó núi, dó vườn và dó xí (cây dó bầu mọc tự nhiên nhưng dân địu đã mở miệng xí phần).


< Các sản phẩm là từ Trằm hương.

Còn đây là dó vườn, người trồng chăm bón ít nhất 10 năm tuổi mới có thể mở miệng, cấy thuốc, rồi tiếp tục săn sóc kỹ lưỡng khoảng 12-15 tháng nữa. Tui mua cây này gần 50 triệu đồng, cho 2 thợ xoi, xỉa khoảng 1 tháng, hết phần gỗ trắng, lộ ra mạch trầm, nếu đẹp thì bán được khoảng hơn 100 triệu đồng. Cần phân biệt trầm hương mỹ nghệ với các mặt hàng lưu niệm, gỗ chạm trổ rồi nhuộm màu, xông hương liệu để bán cho khách du lịch”.

Quan sát công việc chế tác trầm mỹ nghệ, mới hay, trong tay chỉ có mấy cái dũm (giống như cây đục nhưng mũi bằng, cạnh vát, lưỡi khum) với hòn đá mài, những người thợ xuất thân từ nghề đi địu tỉ mẩn xoi từng thớ gỗ, cho đến khi mạch trầm hiện rõ như vân mây.

“Không phải bất cứ loại trầm nào cũng có thể chế tác thành trầm mỹ nghệ và trầm mỹ nghệ không đắt giá như kỳ nam” - ông Tư, thợ chính của xưởng nhà ông Hùng, giải thích: “Chưng cây trầm trong văn phòng hay nhà hàng, khách sạn không chỉ để trang trí mà còn có thể loại trừ khí độc, tà ma. Chúng tôi làm đến đâu, bán hết ngay đến đó, chủ yếu gia công theo yêu cầu của các ông chủ ở TPHCM để xuất sang Hồng Kông, Đài Loan... Nghề này đòi hỏi cẩn thận, khéo tay, nếu chăm chỉ thì thu nhập ổn định hơn đi địu”.

< Người dân cảm thấy thích thú với các cây trầm được triển lãm nhân Tuần Văn hóa Phật giáo tại Nha Trang.

Trở lại câu chuyện “sốt trầm hương”, những vị cao niên ở làng trầm cho hay: “Dưới triều Nguyễn, tìm trầm không phải là công việc tự do làm ăn của người dân. Sau khi xác định vùng núi nào có trầm hương, triều đình cắt cử đội canh tuần và bắt buộc người dân trong vùng phải đi địu tìm trầm - tháng 2 âm lịch vào rừng, tháng 6 trở về - lấy được nhiều, thưởng nhiều; được ít thì thưởng ít. Những người lấy trộm, hoặc lấy được trầm mà không nộp đủ cho quan, thì bị tù tội. Thời thực dân Pháp, bãi bỏ lệ cống nạp trầm hương cho vua quan, mọi người tự do “ngậm ngải tìm trầm”, nhưng khi tìm thấy cây trầm, phải xin phép sở kiểm lâm mới được đốn hạ. Tự tiện chặt cây, nếu gặp lính tuần phòng thì còn bị phạt tù”.

Quả thật, không thể cấm cản dân lên núi tìm trầm, nhưng tại sao từ ngày đất nước thống nhất đến nay, chưa ai đề xuất giải pháp tổ chức, hướng dẫn bộ phận dân cư chuyên sinh sống bằng nghề đi địu và quản lý việc khai thác, sản xuất, kinh doanh trầm hương?                                                  

Du lịch, GO! - Theo báo Lao Động, ảnh internet

Về thăm xứ động Quảng Bình

Thắng cảnh nổi bật nhất của Quảng Bình là Phong Nha, một trong những hang động đẹp nhất thế giới, tiếp đến là nét kỳ thú của bãi biển có nước ngọt gần bờ hay con sông được hình thành từ những giọt lệ.

Danh thắng Phong Nha – Kẻ Bàng là một trong những vùng đá vôi nhiệt đới cổ đại nhất, rộng lớn nhất thế giới vườn quốc gia. Ngoài vẻ đẹp hoang sơ và hùng vĩ của một vùng núi đá vôi rộng lớn, tại đây, bạn còn có dịp tìm hiểu, khám phá vẻ đẹp của động thực vật, nhìn tận mắt những loại động vật thuộc danh mục sách đỏ của Việt Nam và thế giới hay tham quan, khám phá hệ thống hang động Phong Nha, Tiên Sơn, Hang Vòm…

Địa điểm tham quan

Phong Nha - Kẻ Bàng là di sản thế giới thứ 5 của Việt Nam được UNESCO công nhận năm 2003. Trong đó, động Phong Nha được giới chuyên môn cho điểm cao với 7 cái nhất: sông ngầm đẹp nhất; cửa hang cao và rộng nhất; bãi cát, bãi đá ngầm đẹp nhất; hồ nước ngầm đẹp nhất; hang khô rộng và đẹp nhất; thạch nhũ kỳ ảo và tráng lệ nhất và hang nước dài nhất.

Đến Phong Nha, bạn sẽ được lênh đênh trên sông Nậm trong veo phẳng lặng như mặt gương, trôi dần vào khoảng không gian tranh tối tranh sáng, mát dịu trong động, ngắm thạch nhũ nhiều màu sắc, hình dáng, nghe điệu nhạc trong tiệc rượu của thần núi thoảng trong gió, chiêm ngưỡng nét hùng vĩ của những buồng, hành lang đá vôi phủ đầy thạch nhũ long lanh, cùng cảm giác hồi hộp như đang nằm miệng một con quái vật khổng lồ.

Động Tiên Sơn lại được ví sánh “bồng lai tiên cảnh” chốn hạ giới. Động có hàng nghìn khối nhũ đá với nhiều màu sắc mọc tua tủa, cùng những hàng cột đá màu cẩm thạch nhiều hình dáng. Đặc biệt, khi gõ nhẹ vào những phiến đá và cột đá, nó sẽ phát ra những âm thanh lạ kỳ như vọng ra từ chốn sâu thẳm của lòng đất.

Đá Nhảy, bãi biển có nước ngọt ngay bờ tọa lạc dưới chân đèo Lý Hoà mang nét kỳ thú của bãi biển có rất nhiều đá to, nhỏ, thấp, cao. Mỗi khi có sóng, trông xa những tảng đá như nhảy trên sóng tạo nên hàng loạt âm thanh rì rào khác nhau.

Bên cạnh đó, bãi biển Đá Nhảy cũng thu hút du khách với nhiều thắng cảnh, nhiều hang động kỳ thú cùng hàng loạt loại hình như bơi thuyền, leo núi, săn bắn, dạo chơi trong rừng dương, lặn biển bắt sò, thưởng thức hải sản tươi ngon. Ngoài ra, đến Đá Nhảy, bạn còn có dịp thu vào tầm mắt bức tranh sơn thủy hữu tình của khu danh thắng Lý Hòa gần đó.

Nhật Lệ, một bãi tắm tuyệt đẹp gắn liền với truyền thuyết về những giọt nước mắt thương nhớ của người dân ở hai bờ sông Gianh thời Trịnh Nguyễn phân tranh cùng vẻ đẹp hoang dã của một cửa sông đổ ra biển, vẻ thanh bình của những con sóng lăn tăn và của những làn gió mang vị mặn của biển.

Cách bãi biển Nhật Lệ 100m là hồ nước ngọt Bàu Tró, vùng di tích nổi tiếng với những di chỉ khảo cổ học của người Việt cổ.tục truyền là dấu chân để lại của một người khổng lồ khi đi qua vùng đất này. Đến Bàu Tró, ngoài việc nếm thử dòng nước ngọt của một hồ cạnh biển, thả bước trong những dài rừng phi la xanh ngát trên vùng cát trắng đến lóa mắt, nghe tiếng chim ríu rít trên cây, tiếng gió xào xạc thổi.

Suối nước khoáng nóng Bang, con suối ngoằn nghoèo uốn lượn với dòng nước khoáng nóng chạy thành dòng vừa có tác dụng thư giãn, vừa chữa bệnh. Ngoài ra, suối Bang cũng hữu tình với một vùng đồi núi rộng lớn, không khí trong lành, thiên nhiên hoang dã, mộc mạc đầy quyến rũ.

Di chuyển

Có thể lấy hai thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và Sài Gòn là điểm xuất phát cho chuyến viếng thăm Quảng Bình của bạn. Ngoài ra, bạn còn có thể tham khảo tại các bến xe, ga tàu hay đại lý vé máy bay của mỗi tỉnh.

Tại Hà Nội, bạn có thể đến Quảng Bình bằng xe khách, tàu lửa hay máy bay. Lưu ý tham khảo giá vé, lịch trình, thời gian xuất phát, điểm dừng tại cả hai đầu. Ngoài ra, tại Hà Nội, bạn còn có thể mua tour một hay hai ngày cuối tuần tại các công ty du lịch.

Lưu trú

Khu vực trung tâm Đồng Hới - Quảng Bình gồm các tuyến đường Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quách Xuân Kỳ, ... Các bạn căn cứ vào đó để thuê khách sạn tiện cho việc di chuyển. Một số khách sạn giá mềm bạn có thể tham khảo là khách sạn Công Đoàn, Sun Spa…Lưu ý đặt phòng trước khi đến.

Đến vào mùa nào?

Quảng Bình có ba tháng nắng cháy da là tháng 6, 7, 8 và 3 tháng mưa như trút nước là tháng 9, 10, 11. Bạn cần chú ý thời gian để lên lịch trình cũng như trang bị dụng cụ, quần áo.

Đặc sản Quảng Bình

Các đặc sản bạn có thể ăn tại chỗ hay mua về làm quà cho bạn bè, người thân của Quảng Bình gồm đẻn biển, bánh canh, bánh xèo Quảng Hà, ruốc tháng sáu, mắm lẹp, cá nghóe, khoai lang sâm và hải sản…

Mang gì khi đến Quảng Bình?

- Bất kỳ trang phục, giày dép bạn thích. Đừng quên bikini, váy maxi, dép trệt, khăn để tắm biển.
- Mang theo vật dụng đi nắng nếu đến vào mùa nắng và dụng cụ đi mưa nếu đến vào màu mưa.
- Mang theo kem chống muỗi, thuốc trị côn trùng, thuốc trị các bệnh thông thường.
- Mang theo lều, áo khoác nếu có ý định cắm trại.

Các cung đường thường gặp

Hà Nội/ Sài Gòn - Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế
Hà Nội/ Sài Gòn - Quảng Bình -Hà Tĩnh - Nghệ An

Du lịch, GO! - Theo mạng Infonet, internet

Hoài niệm Lai Xá - “Đất tổ” nghề ảnh VN

Lai xá ngày nay
Hàng năm, đến ngày 15 tháng Hai âm lịch, những người con Lai Xá, Hoài Đức, Hà Nội đang làm ăn ở khắp mọi miền đất nước vẫn tấp nập về dự hội làng để tưởng nhớ “Ông tổ làng nghề” và suy tôn nghề nghiệp tổ tiên...

Trong thời đại công nghệ kỹ thuật số, bằng sự ra đời của những chiếc máy ảnh số, máy ảnh du lịch, máy ảnh gia đình đã khiến cho việc đưa nhau ra tiệm chụp ảnh lưu niệm trong những dịp vui, dịp lễ, tết của người dân, bỗng trở nên hiếm hoi, lỗi thời.

Ở một ngôi làng từ xưa được mang danh “đất tổ” của nghề nhiếp ảnh Việt Nam nhưng người dân Lai Xá (huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội) đã phải đóng cửa hiệu ảnh của mình để tìm kế sinh nhai bằng những nghề khác, cho dù ở Lai Xá hôm nay vẫn còn một phố ảnh mang tên Phố Lai.

Vị tổ sư và cái “duyên” nghề ảnh

Năm 1890, cụ Nguyễn Đình Khánh (1874-1946) - người làng Lai Xá ra Hà Nội học nghề ảnh tại cửa hiệu Du Chương của người Hoa trên phố Hàng Bồ. Khi học được nghề, năm 1892, cụ đã tự mở một cửa hiệu riêng mang tên Khánh Ký trên phố Hàng Da.

< Nghệ sỹ Nguyễn Đình Khánh (1874 - 1946).

Khi hành nghề ảnh tại Hà Nội, cụ Khánh có tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Phong trào bị bại lộ nên năm 1911, cụ phải lánh sang Pháp mở hiệu ảnh ở Toulouse mang tên Khánh Ký. Tại đây, đã có một dấu ấn đặc biệt trong đời làm ảnh của cụ.

Vào năm 1913, Raymond Poincaré đắc cử Tổng thống Pháp. Trong rất nhiều tay máy chụp ảnh tân Tổng thống đăng quang lúc đó có Khánh Ký và bức ảnh của ông đã được đánh giá là đẹp nhất và được đưa lên trang bìa một số báo lớn, trong đó có bìa của tờ báo Illustration. Sau thành công đó, một hiệu ảnh Khánh Ký khác được mở tại thủ đô Paris, cuốn hút rất nhiều khách hàng và làm ăn phát đạt.

< Ảnh viện Khánh Ký và những thợ ảnh người Lai Xá tại Sài Gòn năm 1924.

Khi cụ Khánh Ký đang làm nghề ảnh tại Paris thì cũng là lúc cụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động Cách mạng ở đây. Theo cuốn “Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917-1923)” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, thời gian đầu sang Pháp, Bác Hồ đã được các cụ Khánh Ký, Phan Châu Trinh giúp đỡ về tài chính, nơi ở và chính cụ Khánh Ký đã truyền dạy cho Bác nghề ảnh để có tiền hoạt động Cách mạng…

Những năm tiếp theo, hiệu ảnh mang tên Khánh Ký đã có mặt ở Frankfurt (Đức), Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 7/1921, cụ Khánh trở về nước và từ đó đã mở hàng loạt hiệu ảnh ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng.

< Hiệu ảnh trên Phố Lai làng ảnh.

Điều đáng nói, cụ Khánh Ký còn về quê truyền nghề ảnh cho cả làng và trở thành tổ sư của làng nghề... Từ ngôi làng bé nhỏ này, những người dân Lai Xá đã mang nghề đi khắp mọi miền, mở hiệu kiếm sống và đưa thương hiệu quê mình đến muôn nơi.

Thương hiệu bay xa…

Theo tư liệu ở làng, những năm đầu thập kỷ 30 thế kỷ trước đã có 18 hiệu ảnh do người Lai Xá mở ra ở khắp các miền đất nước. Khoảng thời gian 1940 - 1950, ở Hà Nội có 33/40 hiệu ảnh là tài sản của người Lai Xá, với những cửa hiệu nổi tiếng nhất như Kim Lai, Mỹ Lai, Vạn Hoa, Thủ đô ảnh viện, Central, Aubella, Duy Tân...

Cũng thời kỳ ấy, ở Sài Gòn có 27/34 cửa hiệu là của người Lai Xá, nổi tiếng nhất là hiệu ảnh Thịnh Ký. Ở Hải Phòng cũng có tới 16 cửa hiệu… Ngoài ra, hầu như tỉnh thành nào trên cả nước cũng có vài ba hiệu ảnh của người Lai Xá. Có những học trò của cụ Khánh Ký còn sang tận Lào, Campuchia, Myanmar, Trung Quốc, Pháp, Đức... để hành nghề.

< Ngày giỗ cụ Nguyễn Đình Khánh tại Lai Xá, 20 tháng Tư.

Hiệu ảnh của người Lai Xá luôn thể hiện "đẳng cấp" vượt trội so với các hiệu khác khi ở thời điểm đó, họ có thể đảm nhận được tất cả các công đoạn như chụp, làm buồng tối, chấm sửa ảnh đến in, phóng ảnh.

Sở hữu kỹ thuật chụp ảnh khéo léo và bí quyết pha thuốc hãm để đủ độ sáng cho ảnh do bậc thầy truyền dạy, các tay máy của Lai Xá có thể chụp cả chục cuộn phim trong điều kiện thời tiết không thuận mà độ bắt sáng vẫn đều và đẹp.

Người làng Lai Xá mở hiệu kinh doanh ở khắp mọi nơi, nhưng điều đặc biệt là tên cửa hiệu của họ thường mang thêm chữ “Lai” hoặc chữ ‘Ký” như là sự ghi dấu về quê hương và vị tổ sư của mình.Với công lao chuyển một nghề ngoại nhập thành nghề truyền thống, cụ Khánh Ký được người dân Lai Xá suy tôn thành Ông tổ làng nghề. Cụ là một trong bốn danh nhân nhiếp ảnh có tên trong Bách khoa thư Việt Nam. Và quê hương cụ - làng Lai Xá được Nhà nước ta công nhận là Làng nghề ảnh truyền thống độc nhất vô nhị ở Việt Nam.

< Lối vào làng Lai Xá từ phía Đông.

Kế tục sự nghiệp của các bậc tiền bối, người dân gốc Lai Xá hôm nay vẫn cố gắng bảo tồn và phát triển nghề ảnh ở khắp mọi nơi. Họ luôn tự hào về làng mình nhưng cũng không khỏi ngậm ngùi, trăn trở vì ở chính nơi “đất tổ” nghề ảnh này, ngày càng phai nhòa đi dáng nét thân thương của làng nghề xưa...

Du lịch, GO! - Theo Dân Việt, ảnh sưu tầm

Lai Xá ngày nay chẳng lưu lại được là bao đặc điểm của làng nghề, một mặt cũng bởi đặc thù của nghề nhiếp ảnh không phải làm ra sản phẩm đồng loạt để trưng bày, giới thiệu  mà chỉ cảm nhận được sự tồn tại của nghề qua phương thức cha truyền con nối; nhưng mặt khác, bởi 2/3 diện tích của Lai Xá hôm nay đã bị biến thành khu công nghiệp, thành quốc lộ 32, thành nhà chung cư và các khu đô thị. Thế nhưng cái sức sống bền bỉ của một làng nghề thì vẫn mãnh liệt vô cùng. Tính từ thời cụ Nguyễn Đình Khánh thì trong làng giờ đã có tới thế hệ thứ 4 cầm máy. Về Lai Xá vẫn còn nghe người ta truyền tai nhau lời khen tặng của nhà thơ Tố Hữu rằng, ở mảnh đất này, từ em bé đến cụ già râu trắng như cước, cứ có máy ảnh trong tay là họ đều chụp được những bức ảnh đẹp.

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Du lịch Sóc Trăng

Sóc Trăng là một thành phố đẹp và thơ mộng bậc nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thành phố nằm bên bờ sông Maspero hiền hoà. 

< Chùa Sà Lôn - nét đặc sắc của văn hóa Kh’mer Nam bộ.

Trong quy hoạch thành phố trực thuộc Trung ương, tương lai không xa thành phố Sóc Trăng sẽ trở thành quận Bình An: một trong những quận giữ vai trò trung tâm chính trị của thành phố trực thuộc Trung ương.


< Chùa Dơi.

Về địa danh Sóc Trăng thì có vài truyền thuyết trong đó có ý kiến cho rằng Sóc Trăng do tiếng khmer đọc trại ra từ chữ "Srok Tréang có nghĩa là "Bãi Sậy" vì ngày xưa đất Sóc Trăng có nhiều lau sậy hoang vu.

Sóc Trăng là vùng đất hội tụ nhiều lễ hội, với các phong tục, tập quán đặc trưng từ sự giao thoa văn hóa của ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa cùng cộng cư. Chính những lễ hội độc đáo, nét kiến trúc đặc sắc của các ngôi chùa đã làm xao xuyến tâm hồn biết bao du khách khi đặt chân đến địa danh này.

Điểm nhấn của Sóc Trăng là ngôi chùa với hàng ngàn con dơi vắt vẻo trên cây trong khuôn viên, nụ cười chân chất của người dân Khmer và lễ hội Ooc-Om-Bok sôi động.

Địa điểm vui chơi:

Có thể chia các địa danh của Sóc Trăng thành 4 nhóm là: chợ nổi, du lịch sinh thái, du lịch tín ngưỡng và du lịch lịch sử.

Chợ nổi Ngã Năm tại thị trấn Ngã Năm, huyện Thanh Trị, tỉnh Sóc Trăng là một trong những chợ nổi có từ lâu và nhộn nhịp nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, chợ nổi Ngã Năm là giao điểm của 5 con sông đi 5 ngả: Cà Mau lên, Vĩnh Quới vào, Long Mỹ, Thanh Trị qua, Phụng Hiệp xuống.

< Vườn cò Tân Long.

Du lịch sinh thái gồm các điểm như vườn cò Tân Long với hàng ngàn con cò làm tổ, sinh sống là nơi thích hợp để bạn cắm trại và thư giãn trong không gian trong lành, dễ chịu.

Đến vườn cò, bạn sẽ cảm nhận vẻ đẹp thanh bình và thơ mộng của hàng ngàn cánh cò sải dài mỗi sáng khi rời tổ, tiếng râm ran khi hoàng hôn về. Ngoài ra, bạn còn được thưởng thức những món ăn đậm chất dân dã.

< Chùa Sà Lôn.

Cồn Mỹ Phước, nơi bạn thử làm nông dân với trò be mương tát cá hay thoải mái thả bước trong vườn, vịn cành, hái và thưởng thức trái cây tươi ngọt và khu du lịch Bình An, "bản sao" với quy mô nhỏ của công viên văn hoá Đầm Sen Sài Gòn.

Nhóm tham quan tín ngưỡng có các chùa như chùa Sà Lôn, chùa Đất Sét, chùa Kh’lieng và chùa Dơi với nét đặc trưng về kiến trúc và văn hóa. Bên cạnh đó, mỗi chùa cũng có một điểm nhấn riêng. Chùa Sà Lôn (chùa Chén Kiểu) là nét duyên của ngôi chùa sử dụng những mảnh bát (chén), đĩa sứ ốp lên tường để trang trí; chùa Đất Sét với các tác phẩm tượng Phật, linh thú, đỉnh trầm, bảo tháp... được tạo ra từ đất sét sống động như thật.

< Chùa Khleang, một trong những ngôi chùa Khmer cổ nhất ở Sóc Trăng được xây dựng vào giữa thế kỷ 16.

Trong chùa có 8 cây nến: 6 cây lớn chưa đốt và 2 cây nhỏ hơn đang cháy. Trọng lượng mỗi cây nến lớn khoảng 200kg, cao 1,6m, ước cháy liên tục khoảng 70 năm. Chùa Kh'leang được xây dựng vào năm 1933 được xem là ngôi chùa cổ nhất tỉnh. Nổi bật nhất trong 4 chùa có thể kể đến chùa Dơi với kiến trúc tuyệt đẹp, cảnh quan trong lành cùng hàng ngàn con dơi treo mình vào ban ngày.

Nhóm du lịch lịch sử của Sóc Trăng gồm căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng, một di tích cách mạng được xây dựng trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp và bảo tàng Khmer Sóc Trăng, một công trình có kiến trúc theo phong cách chùa của người Khmer. Trong bảo tàng trưng bày nhiều hiện vật quý, phản ánh đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của đồng bào Khmer.

Di chuyển:

Có thể chọn Sài Gòn làm điểm xuất phát, ngoài ra, các bạn có thể tham khảo thêm thông tin ở bến xe của tỉnh.

Bằng phương tiện công cộng

Bạn có thể mua vé xe tuyến Sài Gòn – Sóc Trăng tại bến xe Miền đông hay của hãng xe Mai Linh. Giá vé dao động từ 160.000 – 200.000 đồng tùy chất lượng xe. Đến Sóc Trăng, để tiết kiệm và tiện lợi, bạn có thể thuê xe máy.

Bằng phương tiện cá nhân

Sóc Trăng cách Sài Gòn 240km, quãng đường vừa tầm cho một chuyến phượt thú vị. Hướng đi như sau, từ Sài Gòn – cầu Cần Thơ, qua cầu Cần Thơ rẽ trái, chạy thêm 67km nữa là tới Sóc Trăng.

Lưu ý mang đầy đủ giấy tờ nếu bạn di chuyển bằng phương tiện cá nhân, tuân thủ luật an toàn giao thông đường bộ. Trang bị bao tay, khẩu trang, mắt kính để an toàn khi vận hành. Trang bị điện thoại có chức năng google map để tiện di chuyển.

Đến vào mùa nào?

Bạn có thể đến Sóc Trăng vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Ngoài ra, nếu muốn hòa mình vào 2 lễ hội Ooc-Om-Bok và đua ghe ngọ, bạn nên thu xếp để tới đây vào dịp tối 14 và ngày 15 tháng 10 (âm lịch).

< Hội đua ghe ngo ở Sóc Trăng.

Lưu trú:

Khu vực trung tâm Sóc Trăng gồm các tuyến đường 3/2, Đồng Khởi, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Văn Trỗi, Hai Bà Trưng… bạn có thể dựa vào địa điểm lưu trú để lên lịch trình cho mình. Lưu ý gọi điện đặt phòng trước khi đến.
Một số khách sạn bạn có thể tham khảo giá trước khi đến như khách sạn Phong Lan, khách sạn Công Đoàn.

Đặc sản Sóc Trăng:

< Bánh phồng tôm "Bãi Xàu".

Là tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống nên Sóc Trăng có khá nhiều đặc sản (cả mặn và ngọt) như vịt nấu chao, khô thịt heo, hủ tiếu cá, những món ăn từ xá pấu, bánh gừng của người Khmer.

Một số địa chỉ ăn uống tham khảo:

Búng gỏi già đường Phạm Ngũ Lão và đường Nguyễn Văn Hữu; canh rong biển nấu cá thác lác ở quán Hưng; bánh pía ghé mấy tiệm dọc quốc lộ; bún nước lèo: Quán Cây Nhãn nằm trên đường Võ Đình Sâm; bò nướng ngói: Mỹ Phượng, 63 Phan Bội Châu Ấp Hòa Mỹ, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng…

Mang gì khi đến Sóc Trăng?

- Mang theo quần áo, giày dép tùy ý.
- Mang theo dụng cụ đi nắng nếu đến vào mùa nắng, dụng cụ đi mưa nếu đến vào mùa mưa.
- Mang theo kem chống muỗi, thuốc trị côn trùng, thuốc trị các bệnh cơ bản, nhất là thuốc đau bụng.
- Mang theo lều nếu có ý định cắm trại.

Một số cung đường thường gặp:

Sài Gòn – Cần Thơ – Sóc Trăng
Sài Gòn – Sóc Trăng – Cà Mau
Sài Gòn – Sóc Trăng – Bạc Liêu

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Infonet, internet

Bánh khoái nồi rang

Với những người con xa quê, ký ức về kỷ niệm tuổi thơ và món ăn mẹ nấu luôn còn mãi, lung linh rõ nét và khó quên.
Khi trời lành lạnh cuối ngày với mưa rơi lất phất lại chợt thấy thèm bánh khoái nồi rang Thanh Hóa quê nhà.

Với nguyên liệu giản dị, không cầu kỳ nhưng bánh khoái nồi rang (hay còn gọi là bánh khoái chảo gang hoặc bánh khoái tép) làm người ta ăn no mà không ngấy, ăn mãi không thấy chán… không rõ từ bao giờ nhưng có lẽ tên bánh được đặt theo cảm xúc như vậy.


Thời bao cấp, ngày nghỉ thỉnh thoảng mẹ lại làm món bánh khoái nồi rang. Món ăn được cả nhà yêu thích.

Gạo tẻ được xay mịn thành bột hòa với nước ngâm qua đêm cho thật nhuyễn, nguyên liệu là những thứ giản dị, dễ tìm: tép đồng tươi, bắp cải, rau cần… Tép đồng được đảo sơ với hành lá và gia vị cho ngấm, khi se vàng là được, rau cần rửa sạch, lấy cọng non, bỏ lá, cắt từng đoạn ngắn, bắp cải thái mỏng. Tất cả nguyên liệu chỉ đơn giản vậy.

Chảo gang được đặt trên bếp đun to lửa, một khúc cuống của tàu chuối được nhúng vào bát mỡ phết nhanh và đều trên khắp mặt chảo một lớp mỏng, bắp cải, rau cần được rải đều trên mặt chảo, muôi bột được đổ vây xung quanh, mỡ nóng làm bột se lại quyện đều vào rau là lúc rắc tép đều lên mặt bánh. Trong chốc lát, khi viền bánh vàng rộm là lúc lật bánh lại, chỉ một phút sau khi mùi thơm náo nức tỏa ra là lúc bánh chín.

Khi bánh chín, người ta ăn nóng. Bánh được chấm với nước mắm cốt cá pha loãng với chanh, ớt, chút hạt tiêu. Mùi thơm, ngọt rau cần và bắp cải lẫn vị bùi, béo của tép đồng cùng cảm giác giòn giòn của miếng bánh tan trong miệng thật khó quên. Vị bánh với nóng, cay, ngọt, bùi, béo lan tỏa khắp cơ thể đánh thức mọi cảm xúc, ăn xong lại háo hức chờ ăn tiếp cái bánh trong chảo mới thấy nhớ những ký ức ngọt ngào của tuổi thơ. Hương vị bánh cũng thanh tao, mộc mạc một nắng, hai sương như quê nhà.

Bánh khoái nồi rang Thanh Hóa giản dị như chính những người dân ở vùng quê nghèo nơi đây, không cầu kỳ về nguyên liệu chế biến và thực hiện như bánh khoái Huế, bánh xèo Nam Bộ nhưng ai đã thưởng thức một lần thì sẽ khó quên và còn lưu luyến mãi.

Du lịch, GO! - Theo Bảo Châu (Baodulich), ảnh sưu tầm

Cung đường bị lãng quên

Quốc lộ 6 cũ – Tuyến đường từng là huyết mạch giao thông của cả vùng Tây Bắc giờ đây nằm lặng lẽ nơi rừng núi cô quạnh.

Để lại sau lưng những mệt mỏi của con đường Xuân Nha đã qua, mái nhà đơn sơ của người Thái bên sườn núi, tiếng suối trong vắt, rừng tre xanh mát, bỏ lại nơi đó dấu chân và vết bánh xe của kẻ lãng du…

Chút nắng chiều le lói sau màn sương dày đặc, vội vã những guồng quay cuối cùng chúng tôi tìm về nơi ánh sáng thị thành – Đêm đó, Mộc Châu mưa rơi đều…

Chúng tôi thức giấc khi những giọt sương ban mai còn ướt đẫm trên những búp chè xanh non xanh biếc. Mộc Châu sáng tháng 5 trời trong vắt, chút ánh sáng mùa hạ chưa đủ xua tan cái lạnh giá miền Cao nguyên này.

Chằng lại đồ, đổ đầy xăng, một chầu cà phê sáng và lại tiếp tục lên đường, tìm lại cung đường đã bị quên lãng bởi thời gian, con đường Quốc lộ 6 cũ. Cung đường từng là huyết mạch giao thông của cả vùng Tây Bắc hùng vĩ, giờ đây nằm lặng lẽ nơi rừng núi cô quạnh.

Thị trấn Nông trường Mộc Châu bây giờ là nơi gặp nhau của 2 con đường cùng một cái tên – Quốc lộ 6, nhưng người ta đã gọi chúng là đường mới và đường cũ, như để phân biệt quá khứ và hiện tại. Con đường 6 mới với mặt đường nhựa nhẵn thín, bốn làn ôtô chạy suốt đêm ngày, còn đường 6 cũ giờ chỉ còn lại vài đoạn có thể đi được, có những đoạn chỉ còn lại trong ký ức của những người dân nơi đây.

Xuyên qua thị trấn Nông trường, qua những đồi chè xanh mượt, chúng tôi hướng về đèo Hua Tát, một con đèo nằm trên quốc lộ 6 cũ giờ đây gần như bị bỏ hoang.

Đèo Hua Tát dài chừng 25 cây số, ngày xưa nó là con đèo rất hiểm trở, là thách thức đối với bất cứ lái xe nào qua đây, mặt đường nhỏ, một bên là núi cao dựng đứng, bên kia là vực sâu thăm thẳm. Góc cua tay áo rất hẹp, khuất tầm nhìn. Theo thời gian bị bỏ hoang, mặt đường xuống cấp trầm trọng, chỉ còn trơ lại nền đường cũ.

Những chặng đường thế này, Minsk luôn là kẻ được ưu tiên đi trước. Côn đã thay, máy được căn chỉnh lại làm cho chiếc xe “xã hội chủ nghĩa” này lao mình đi một cách nhanh chóng. Đâu đó, dưới thung lũng kia, những vườn đào, vườn mận cuối mùa còn trĩu quả. Con đèo Hua Tát giờ đây đã được nối thông ra Quốc lộ 6 mới, vì thế, chúng tôi phải hỏi người dân để tìm lại đường 6 cũ. Dễ dàng nhận thấy dấu vết của thời gian qua con đường trải dài là bùn lầy và cỏ dại.

Sau Minsk những chiếc wave, dream và cào cào là chiếc xe chốt đoàn. Mặt đường tuy lầy lội, rất nhiều ổ gà lớn nhỏ, dòng suối chảy vắt ngang đường không còn là thử thách quá khó khăn khi ngày hôm qua chúng tôi đã được luyện tay lái và thần kinh ở đoạn đường Xuân Nha. Không nhiều con dốc dựng đứng, ít trơn trợt hơn, nền đường to hơn, nhưng điều đó không làm quốc lộ 6 cũ mất đi vẻ hấp dẫn.

Hãy thử dấn thân vào đây một lần, và nếu bạn là tín đồ của off-road thì nó sẽ khiến bạn bị mê hoặc. Con đường men theo sườn núi lên cao dần đồng nghĩa với việc bạn có thể tha hồ ngắm cảnh sắc phía thung lũng. Và bạn sẽ thấy những vườn đào, vườn mận đang trĩu quả mà chúng tôi dễ dàng xuống tận nơi để hái, sẽ thấy thửa ruộng bậc thang đang vào mùa cấy lúa với ngôi nhà nằm yên bình giữa đám mạ non xanh.

Những vật dụng cần thiết khi đi qua Quốc lộ 6 cũ là dao, loại dao rựa của người dân tộc hay đi làm rẫy, bởi sẽ có rất nhiều đoạn chúng tôi phải dừng lại, phát lau lách, phát quang những cây bụi mọc giữa đường để mở lối đi. Cảm giác đó, khiến bạn nhận thấy rằng, mình như là kẻ tiên phong mở đường, tìm lại lịch sử ngày xưa đó.

Nhưng cũng đừng mải mê với cảnh sắc ven đường mà quên đi việc lái xe. Mặt đường bị cày nát theo năm tháng xuất hiện rất nhiều sống trâu, và bùn lầy đặc quánh. Chỉ cần một phút lơ là, bạn sẽ dễ dàng “đo đường” ngay lập tức. Chúng tôi gặp phải sự cố khi xe của hai bạn nữ xế nhau bị ngã. Cú ngã giữa vùng nước đầy bùn khiến cho chúng tôi không nhịn được cười khi nhìn bộ dạng hai người bạn đồng hành. Tất nhiên, dựng xe dậy và tiếp tục cuộc hành trình là hành động của bất cứ kẻ “dirtbikes” nào.

Nghỉ trưa dưới tán cây giữa con đường cũ, thịt được nướng nhanh chóng, mỳ tôm đã chuẩn bị sẵn, đồ ăn được soạn ra, ly cà phê béo ngậy tạo cảm giác lâng lâng đến khó tả khi được thưởng thức giữa nơi sươn cước hoang dã này. Một nửa chặng đường đã được chinh phục. Trước mắt là chặng đường chạy dọc dòng sông Đà hùng vĩ. Có thể nói sau chặng đường Xuân Nha đầy khó khăn và gian khổ thì chặng đường ngày hôm nay của chúng tôi đã nhàn nhã hơn rất nhiều.

Từng chiếc xe nối đuôi nhau chạy đều, cảnh sắc quá đẹp khiến lộ trình bị chậm lại. Rẽ ngang vào dòng thác bên đường chơi đùa là cách mà chúng tôi đã làm để chống lại cái nắng oi ả của tháng 5. Dòng thác cao vút từ trên đỉnh núi đổ xuống nhẹ nhàng như một dải lụa mềm, tô điểm cho núi rừng nơi đây thêm bảng lảng. Kẻ lãng du, đã dừng gót chân khi chiếc cầu vồng xuất hiện lưng chừng dòng thác. Mọi mệt nhọc tan biến, hòa mình vào đó, bạn sẽ thấy off-road xe máy luôn mang lại những điều mới lạ.

Trời về chiều, ánh hoàng hôn vàng vọt lấp loáng nơi dòng Đà Giang đồng hành cùng chúng tôi trên con đường về Bãi Sang, chặng cuối cùng của hành trình. Bãi Sang – Tòng Đậu là điểm cuối của đường 6 cũ cắt ra đường 6 mới. Chạy qua từng khu rừng tre mà bà con ở đây trồng rừng nguyên liệu, ôm cua và đổ đèo một cách thuần thục, khói bếp chiều giăng lên cùng hoàng hôn đỏ làm chậm bước chân những kẻ lãng du. Vội vã những guồng quay cuối cùng qua Thung Khe, Thung Nhuối trong ánh trăng hoang hoải đưa chúng tôi về với thị thành.

Lộ trình cho cung đường Xuân Nha – Quốc lộ 6

Ngày 0: Hà Nội – Mai Châu (130km): Ngủ nhà sàn ở Bản Lác.
Ngày 1: Mai Châu – Co Lương – Trung Sơn – Pù Lầu – Xuân Nha – Chiềng Ve – Thái Hưng – Mộc Châu (120km). Điểm nhấn là: Chạy dọc dòng sông Mã, xuyên qua Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, qua bản Tà Làu của người Thái trắng, qua đồi chè, những dòng suối…
Ngày 2: Mộc Châu – Thị trấn Nông trường – Theo đường 43 đến Xồm Lồm thì rẽ phải đi lên Hua Tát – Phiêng Hạ – Chiềng Sơn – Bãi Sang – Tòng Đậu – Hòa Bình – Hà Nội. Điểm nhấn là: Đèo Hua Tát, đường 6 cũ hoang sơ lau lách mọc chen cả lối đi, Bãi Sang thơ mộng với dòng sông Đà xanh ngắt, đèo Thung Khe, Thung Nhuối như sợi chỉ vắt ngang núi rừng Tây bắc…

Thời gian đi thích hợp nhất

Tránh đi vào mùa mưa, đường xá lầy lội và có thể có lở núi rất nguy hiểm. Mùa đi đẹp nhất là mùa xuân và đầu đông. Mùa xuân lên miền Cao nguyên ngắm cả rừng đào, mận khoe sắc, ngắm cả cánh đồng cải bạt ngàn, đồi chèe xanh non. Mùa tháng 5, mùa đi hái mận trên đèo Hua Tát.

Quán ăn ngon dọc đường: Quán 70 tại Km 178 cách TT Nông trường Mộc Châu chừng 4km trên đường QL 6 mới. Quán 64.

Điểm nhấn nghỉ ngơi và chụp ảnh:

+ Rừng tre Xuân Nha, dọc sông Mã
+ Đồi chè Mộc Châu, cao nguyên Mộc Châu
+ Đèo Hua Tát
+ Quốc lộ 6 cũ
+ Dòng thác bên đường.

Du lịch, GO! - Theo Ovuong, Vietnamdirtbiketravel (Autocarvietnam)

Búng Bà Rí: lò thiếu sinh ngư dân

Tại huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) có một bãi tắm người dân trên đảo quen gọi là Búng Bà Rí. 

Búng Bà Rí nằm ngay trước chùa Đục có tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao 27m hướng về phía Biển Đông. Tương truyền, có người đàn bà Chăm tên là Bà Rí dõi theo chồng đi biển ở đây rồi chết hiển linh. Từ thời người Chăm ra khai phá Cù Lao Ré (tên gọi cũ của huyện đảo Lý Sơn) Búng Bà Rí đã linh thiêng, nơi đây cũng là nơi tôi luyện các trai tráng của đội Kiêm Quản Bắc Hải từ thời vua Minh Mạng ra bảo vệ Hoàng Sa.

Búng Bà Rí chính là nơi có dòng nham thạch nguội từ núi lửa ba ngọn trên đảo Lý Sơn tạo thành một bãi tắm có đủ các loại hình vũng nước cạn, vũng nước sâu và vũng có dòng chảy xiết…

Từ bé, những ngư dân lão luyện ở Lý Sơn đã có những bước chập chững đầu tiên làm quen với sóng biển ở đây rồi thành những ngư dân lão luyện chinh phục ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa.

Ở Búng Bà Rí dòng nham thạch nguội tạo thành một chiếc ao nhỏ giữa bãi tắm là nơi nô đùa, bật ngựa trên nước của lũ trẻ.

Người dân huyện đảo Lý Sơn vẫn quan niệm rằng, Vũng Bà Rí trước chùa Đục, có tượng Quan Thế Âm Bồ Tát hướng ra biển nên sẽ được Phật che chở và bảo vệ trước sóng lớn.

Chị Nguyễn Thị Mai chiều chiều dẫn hai con gái của mình đến Búng Bà Rí tập bơi, tập lặn. Chị bảo: "Ở đảo tiền tiêu này, con gái cũng phải biết bơi, biết lặn. Trai tráng, đàn ông thì đánh cá lớn ở Trường Sa, Hoàng Sa, còn đàn bà phụ nữ cũng phải biết dùng thúng chai đánh bắt cá bé quanh đảo chứ?"

< Làm quen với sóng biển trên lưng cha.

Đối với đàn ông ở Lý Sơn, không tôi luyện qua sóng nước ở Búng Bà Rí thì không thể thành ngư dân thực thụ.

Chỉ cần đến tuổi trưởng thành, đám thanh niên ở Lý Sơn có thể lặn bắt cá mực quanh đảo. Lớn hơn có thể theo cha, anh đi những chuyến hải trình dài ngày đánh bắt thuỷ sản ở ngư trường Hoàng Sa và Trường Sa.

Du lịch, GO! - Theo Thông Thiện (SGTT)