Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Chuối nếp nướng Châu Đốc

Chuối bọc nếp nướng vốn là thứ quà ăn chơi của dân miền Tây, và hẳn tôi sẽ luôn nhớ về Châu Đốc với một chiếc xe hàng mưu sinh giản dị, với nụ cười hiền hậu của cô bán hàng trước đám khách đến từ phương Bắc xa xôi...

Sau bữa sáng với món bún mắm nổi tiếng ở chợ Châu Đốc, chúng tôi chạy xe lòng vòng tìm quán cà phê. Tìm được quán vội nhắn địa chỉ cho bạn, rồi đứng canh ngoài đường, sợ lạ phố, lạ xá, các bạn rẽ dọc rẽ ngang mất. Bên kia đường có một bếp than củi nướng, bên trên có những chiếc bánh gói tròn đang được nướng.
Buổi sớm đường đông, mà sao thấy nhiều người dừng chân mua dăm chiếc gói vào túi nilông rồi đi. Tò mò chạy sang hỏi, mới biết đó là món chuối bọc nếp nướng, giá 5.000 đồng/cái.

Lúc chạy xe đi tìm quán cà phê đã thấy dọc phố hay có những bếp nướng gọn nhẹ thế này. Xem ra đây là món ăn sáng khá phổ biến ở thị trấn miền tây bên bờ sông Hậu? Có lẽ vì nó tiện dụng, ngon miệng, lại giá rẻ nữa. Mỗi một quầy hàng chỉ cần có một bếp nướng than củi cỡ 40x100 cm, trên vỉ sắt là những chiếc bánh xếp đều bên nhau. Mùi nếp nướng bọc trong lá chuối tỏa ra thơm nức, kích thích cái dạ dày đói meo của buổi sớm mai.

Người phụ nữ bán hàng vừa nhanh tay trở những chiếc bánh nướng trên mặt bếp, vừa hối hả gói hàng cho khách, vừa giải thích cho chúng tôi biết món bánh chuối nướng được làm thế nào.

Trông thì đơn giản nhưng muốn có món chuối nướng bọc nếp ngon cũng khá kỳ công. Chuối được bóc vỏ, bọc một lớp cơm nếp nấu chín thơm mùi nước cốt dừa, gói vào trong lá chuối, dùng que tăm ghim hai đầu lại rồi nướng trên bếp cho đến khi bề mặt nếp se lại, vừa đủ vàng và giòn. Thông thường khi đó lá chuối xanh đã khô lại, chuyển sang màu nâu cháy. Lớp cơm nếp bọc ngoài phải vừa độ mỏng, sao cho khi ăn không bị ngấy.

Bóc lớp lá chuối nóng hổi và thơm phức ra, tôi cắn một miếng chuối nướng bọc nếp ngập chân răng và xuýt xoa vì nóng. Vị ngọt thanh của chuối, thơm ngon của nếp trong mùi cốt dừa, cái dai dai, ngầy ngậy khiến tôi không khỏi bất ngờ. Một món ăn dân dã vỉa hè, rẻ mà lại ngon đến thế!

Tôi mua một bịch mang vào quán cà phê để bạn bè cùng thưởng thức. Anh bạn người miền Tây cười cười bảo muốn ăn ngon nữa thì cầu kỳ thêm một chút. Xắt miếng chuối nướng nếp ra, chan nước cốt dừa và rắc thêm chút đậu phộng giã nhỏ, vừa bùi, vừa béo ngậy hơn nhiều.

Nhưng có lẽ cũng giống như những người dân Châu Đốc bình dị đang dừng xe mua vội vài trái chuối bọc nếp nướng kia cho bữa sáng, chúng tôi ai nấy cũng thích tự mình bóc tấm lá chuối bên ngoài ra để nhẩn nha ăn cho bằng hết.

Chỉ cần ăn hết một chiếc đã thấy chắc bụng và không có nhu cầu ăn tiếp nữa. Có lẽ chính cái thơm lừng, béo ngậy của chuối bọc nếp nướng đã kích thích cái vị giác, khứu giác nhanh chóng đạt đỉnh và khiến người ăn ngang dạ. Tôi gói lại hai chiếc bỏ trong balô, đợi khi đói bụng lại ăn tiếp món quà lót dạ thơm thảo và lạ miệng này.

Du lịch, GO! - Theo Băng Giang (Dulich Tuoitre), internet

Đi tìm kho báu trên sông Ma

Là một địa danh được đánh dấu son trong bản đồ của những kẻ truy tìm kho báu, sông Ma đã từng bị xới tung không biết bao nhiêu lần để thỏa mãn những giấc mơ vàng không biên giới.

Những giấc mơ "vàng"

Bắt nguồn từ núi Ba Tiên, dòng sông Ma uốn lượn như sợi chỉ bạc quanh các dãy núi phía Bắc tỉnh Hà Giang, chảy qua xã Tùng Bá (huyện Vị Xuyên), Yên Định, Minh Ngọc (huyện Bắc Mê) rồi về hợp lưu vào dòng sông Lô huyền thoại để tiếp tục đường đi của mình.

Đây là một ngọn núi có địa thế vô cùng hiểm trở, nơi cao nhất lên tới 2.535m so với mực nước biển. Nơi đây thường xuyên bị bao phủ trong mịt mù sương giá như một ma trận thâm u, bí hiểm, một khi đã lạc vào thì sẽ chẳng thể tìm được lối ra.

< Núi và thác Tam Tiên nơi phác nguyên ra dòng sông Ma (còn gọi là dòng sông vàng).

Truyền thuyết kể lại rằng, đó chính là nơi ở của 3 nàng tiên nữ giáng trần nên gọi là núi Tam Tiên hay núi Ba Tiên. Trên đó vẫn còn một chiếc giếng cổ quanh năm đầy nước trong vắt, được cho là thứ nước thuần khiết nhất được các nàng tiên mang xuống từ nơi tiên giới. Khi các nàng tiên này bay về trời đã có một cơn mưa bạc, mưa vàng rơi xuống, trải khắp dòng sông Ma.

Trên ngọn núi thần tiên này vẫn còn lưu truyền rất nhiều những câu chuyện kỳ lạ. Theo lời kể của các vị cao niên trong làng, một số người dân sống trong vùng từng lên núi Ba Tiên đã tận mắt nhìn thấy vô số những cây cam, quýt, chanh mọc chi chít như rừng nhưng không rõ do con người trồng hay do chúng tự mọc. Điều lạ lùng hơn nữa là mặc dù không có ai chăm sóc nhưng những cây cam, cây quýt này quanh năm tươi tốt, mỗi khi đến mùa quả sai lúc lỉu, chín mọng đầy cành vô cùng hấp dẫn.

Nhưng dù có thèm đến mấy, đói khát đến mấy, những người đi qua khu rừng này, bất kể già, trẻ, gái trai cũng chẳng bao giờ dám động đến dù là một quả. Mặc cho cam, quýt chín vàng, họ cũng không dám hái, rụng đầy gốc họ cũng chẳng dám ăn. Quả chín rụng xuống dòng sông Ma, theo dòng trôi về xã nhưng cũng chẳng ai vớt, thậm chí trông thấy họ còn cố tránh cho xa. Hỏi ra mới biết nguyên nhân là do người trong vùng cho rằng đó là những quả ma, nếu ăn vào sẽ không tìm thấy đường về nhà.

Trong những câu chuyện của họ về dòng sông Ma bí ẩn còn có câu chuyện ly kỳ về những cây cổ thụ kỳ quái trên rừng núi đá Ba Tiên. Một vài người trong vùng đã từng đặt chân lên núi Ba Tiên quả quyết rằng họ đã tận mắt nhìn thấy vô số những cây cổ thụ với những hình dáng cổ quái chưa hề bắt gặp xưa nay. Trên những thân cây kỳ quái ấy là những đám rêu dày xanh mướt, như được mọc ra từ chính thân cây trước đó hàng thế kỷ.

Ông Vương Đức Trung, một trong những người cao tuổi nhất vùng kể lại, ngay từ thời Pháp thuộc, cái tên sông Ma đã có tên trong bản đồ hành chính của tỉnh Hà Giang. Không những thế, sông Ma còn là một cái tên luôn gây được sự chú ý. Không ít những kẻ nuôi giấc mộng "vàng" đem lòng thèm khát bởi những bí mật kho báu mà nó chứa đựng bên trong.

Suốt nhiều thế kỷ qua, từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc, từng đoàn người, hết đoàn nọ đến đoàn kia nối tiếp nhau đến sông Ma tìm vàng. Ai cũng tin vào những lời đồn đại rằng, dưới lòng sông, vàng thỏi, bạc thỏi lẫn trong cát, trong đá sỏi nhiều vô kể. Mỗi khi trời nắng, bạc vàng lại hắt ánh sáng lấp lánh đầy mê hoặc lên trên mặt nước khiến vô số kẻ có thể sẵn sàng nhảy ngay xuống để ôm lấy giấc mộng "vàng".

< Con sông Ma đoạn qua xã Tùng Bá.

Chẳng biết họ có tìm được gì không nhưng sông Ma thì đã bị khai thác đến kiệt quệ và chẳng hiểu vì đâu năm nào cũng có một vài sinh mạng bị cướp đi trên dòng chảy bị cho là ma quái này.

Đứng ở trung tâm xã Tùng Bá nhìn về phía núi cao cách chừng 3 cây số là thác Ba Tiên tung bọt trắng xóa. Dưới chân thác chính là điểm khởi đầu của dòng sông Ma, đoạn chảy qua xã Tùng Bá, một trong những khúc sông gắn với nhiều câu chuyện ly kỳ nhất về con sông Tiền Bạc.

Ám ảnh sông Ma

Người dân nơi đây cho biết, hầu như năm nào cũng có người chết trên khúc sông này. Nhiều người đang giặt giũ hoặc đứng chơi trên bờ sông thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy xác người chết đuối bị trương phềnh ở đâu nổi lên trên mặt nước. Một số người khẳng định, chắc chắn đoạn sông đó có thủy quái sinh sống (?). Nó là một con cá sấu đã thành tinh vô cùng hung dữ chuyên dụ dỗ người xuống sông rồi kéo chân dìm chết. Một số khác lại cho rằng, có một lời nguyền bí ẩn có liên quan đến một chàng trai người nước ngoài. Đó là thời gian vào khoảng những năm 1990 của thế kỷ trước.

< Cây cầu treo duy nhất bắc qua sông Ma tại xã Tùng Bá.

Chuyện kể rằng lúc đó, có một chàng trai ngoại quốc đem lòng yêu say đắm một cô gái Việt Nam xinh đẹp sống trên trên vùng eo của núi Ba Tiên, nơi phác nguyên ra dòng sông Ma. Tình yêu si mê của chàng trai đáng tiếc thay lại không được cô gái kia chấp nhận dù chàng đã nhiều lần cất công lên núi tỏ tình. Vì quá si tình và đau khổ khi tình yêu bị từ chối nên chàng trai đã gieo mình xuống dòng sông tự vẫn. Trước khi chết anh ta đã thốt lên một lời nguyền bằng ngôn ngữ nước ngoài cho nên không ai hiểu được.

Chỉ biết rằng, sau đó, sông Ma ngày càng trở nên lạnh lẽo, đáng sợ bởi thỉnh thoảng người ta lại bắt gặp một người chết bập bềnh trên sông. Có người chết cả tuần rồi, xác mới nổi lên trên mặt nước. Có những xác chết không biết từ đâu cũng dập dềnh trôi dạt về bến sông này, bỗng dưng nổi lên trên mặt nước trong nỗi sợ hãi của người dân. Không biết từ khi nào, sông Ma đã trở thành nỗi ám ảnh của hàng trăm người dân trong vùng đúng như tên gọi của nó. Trẻ con bị cấm không được bén mảng đến gần sông vì sợ bị thuồng luồng kéo chân xuống dòng nước xoáy.

Không chỉ chuyện sông Ma với nhiều bí hiểm mà xung quanh ngọn núi Ba Tiên, nơi khởi nguồn của dòng sông này cũng được lưu truyền nhiều chuyện tương tự. Người trong thôn Khuôn Phà kể rằng, nơi núi Ba Tiên trước đây có rất nhiều người chết nên mỗi khi đi qua đây một mình người ta đều cảm thấy như có hàng trăm cánh tay từ dưới đất với lên, níu chân mình lại. Người nào càng cố bước nhanh càng thấy như có người đang gấp gáp đuổi theo nhưng ngoảnh lại nhìn thì lại chẳng thấy ai.

< Sông Ma, đoạn chảy qua xã Tùng Bá.

Vài năm trước, có đoàn người từ bên xã Thái An sang nhà người quen ở Tùng Bá chơi, đến giữa đỉnh dốc mệt quá bèn ngồi nghỉ. Trong lúc đang hoa mắt chóng mặt vì thở dốc, một vài người trong số đó bỗng nghe thấy tiếng động như ai rẽ cây bước lại gần, nhưng chẳng thấy gì cả. Không những thế, người ta còn nghe thấy cả tiếng đá lăn, cây đổ ào ào thẳng từ đỉnh đồi về phía mình, nhưng cứ cách khoảng trăm mét lại biến đi đâu mất. Cũng tại con dốc đó, có người đã vứt súng săn, lăn lóc theo sườn dốc, chạy bán sống bán chết, quần áo tả tơi vì bị cảm thấy có người "trời" đang đuổi theo mình.

Bàn về những câu chuyện chưa rõ thực hư này, ông Đán Văn Viết (trưởng công an xã Tùng Bá) cho rằng, do người dân bị ám ảnh bởi những vụ chết đuối trên sông nên đã tưởng tượng và thêu dệt thành những câu chuyện huyền bí rồi truyền tai nhau. Còn chuyện trên núi Ba Tiên cũng chỉ do người dân đi trên con đường mòn vắng vẻ, giữa cảnh rừng núi hoang vu dễ nảy sinh ảo giác gây sợ hãi cho chính mình.

Du lịch, GO! - Theo Nguoiduatin, ảnh internet

Về U Minh Thượng, xuống U Minh Hạ

Từ giữa tháng 12/2012, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã được Ban Thư ký Công ước Ramsar xem xét công nhận là khu Ramsar thứ năm của Việt Nam. 

Cùng với bốn khu vực: Vườn quốc gia Xuân Thủy - Nam Định, Bàu Sấu thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên - Đồng Nai, hồ Ba Bể - Bắc Cạn, Vườn quốc gia Tràm Chim - Đồng Tháp, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau trở thành vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt với vai trò là nơi cư trú của những loài chim nước.

Người “anh em” của U Minh Hạ là Vườn quốc gia U Minh Thượng - Kiên Giang (thường gọi là Miệt Thứ) cũng nằm trong Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) Kiên Giang có hệ sinh thái đa dạng vào bậc nhất nhì của thế giới.

Tại Hội đồng điều phối quốc tế Chương trình con người và sinh quyển (Hội đồng MAB) khóa 19 tổ chức ở thủ đô Paris, Pháp từ ngày 23 đến 27/10/2006, khu DTSQ Kiên Giang đã được công nhận là khu DTSQ thế giới.

Để đến vườn quốc gia U Minh Thượng, bạn sẽ phải qua ngã ba Tắc Cậu (thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, Kiên Giang), một địa danh nổi tiếng trong bài ca cổ “Hoa tím bằng lăng”: Từ rạch Cái Thia dọc theo đường bộ, bạn ra Tắc Cậu. Băng qua sông Cái Bé bằng những chiếc phà nhỏ rồi vượt sông Cái Lớn đến U Minh Thượng.

Bước lên khỏi phà, bạn đã đặt chân đến Miệt Thứ. Đến đây, bạn sẽ thú vị nhận ra rằng, mỗi con kinh cắt ngang quốc lộ đều được đặt tên là “Thứ”. Con kinh đầu tiên được đặt là Thứ Nhất, cứ thế đến kinh Thứ Mười Một.

Từ thị trấn Thứ Ba hoặc đến cầu Thứ Bảy (huyện An Biên) hỏi đường đến huyện lỵ U Minh Thượng rồi đi thêm khoảng 15 phút nữa là đến hồ Hoa Mai, nằm giữa lòng U Minh Thượng. Hồ Hoa Mai là dấu tích của một trảng bom thời chiến tranh, đến nay vẫn được giữ nguyên trạng và trở thành nơi cư ngụ của nhiều loại cá tôm.

Cùng với hệ sinh thái đất ngập nước mang đặc trưng của rừng U Minh, hồ Hoa Mai còn thu hút cả những loài chim có trong sách đỏ như già đẩy Java (chim Già Sói). “Hên” chút nữa, bạn còn có thể gặp cả một bầy heo rừng lẩn quẩn quanh đây.

Muốn khám phá rừng, bạn có thể nhờ Ban quản lý Vườn Quốc Gia U Minh Thượng tổ chức đưa đón tham quan rừng. Len lỏi vào rừng trên chiếc xuồng ba lá bạn sẽ được nghe những câu chuyện đẹp như huyền thoại về một thời khẩn hoang, nghe chuyện cười bác Ba Phi, chuyện bộ đội ta nằm vùng đánh giặc…

Điểm thú vị trong chuyến du ngoạn của bạn chính là những trảng nước rộng mênh mông - nơi chứa tầng thủy sinh đa dạng. Bạn sẽ tận mắt thấy sức sống của những đám bồn bồn, đám sậy, nhìn từ xa chúng mọc như những cù lao giữa sông cái lớn.

Bạn có thể hét lên vì thích khi nhặt được những quả trứng chim ngay trên lá bông súng nổi lênh đênh trên mặt nước. Đến với sân chim hoang sơ rộng 44ha với khoảng 700.000 cá thể bạn sẽ nghe được bản hòa tấu độc đáo giữa thiên nhiên thanh bình. Nhiều loài động vật quý hiếm vẫn còn tồn tại ở đây, như: rái cá lông mũi, điên điển cổ rắn, giang sen, già đẩy Java, quắm đầu đen, hạc cổ trắng, đại bàng đen...

Khám phá U Minh Thượng, sẽ không trọn vẹn nếu bạn bỏ qua cơ hội thưởng thức canh chua cá rô nấu với trái giác và đọt choại, đặc sản của rừng.

Từ U Minh Thượng, bạn hãy “nối vòng tay lớn” đến U Minh Hạ để thăm thú khu Ramsar thứ năm của cả nước. Trải qua cuộc chiến tranh ác liệt và những trận cháy dự dội, U Minh Hạ giờ đã được tái sinh.

Vườn quốc gia U Minh Hạ được thành lập ngày 20/ 1/ 2006, có diện tích 8.286 ha nằm trên địa phận xã Khánh Lâm, Khánh An (huyện U Minh), xã Khánh Bình Tây Bắc và Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Địa danh Vồ Dơi rộng 3.600ha được biết đến như vùng lõi của Vườn quốc gia U Minh Hạ, đây cũng là khu rừng nguyên sinh duy nhất còn sót lại sau nhiều lần rừng U Minh Hạ bị cháy.

Quanh khu vực này là hơn 25.000ha rừng đệm, có vai trò như khu bảo vệ thiết yếu cho sự phục sinh của các loài động vật, thực vật thuộc hệ sinh thái vùng ngập nước. Vườn quốc gia U Minh Hạ được các nhà khoa học xem là nơi trưng bày sống về các loài thực vật thuộc hệ sinh thái ngập úng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 201 loài thực vật bao gồm: cây dược liệu, cây lấy gỗ, cây lấy dầu, cây làm kiểng…

Đến U Minh Hạ, bạn không chỉ được về với thiên nhiên mà nếu muốn, bạn cũng có thể sử dụng các dịch vụ du lịch ở mang những cái tên rất đặc trưng của Đất Mũi là Khu du lịch Sinh thái rừng tràm và khu du lịch “Sông Trẹm”. Từ U Minh Hạ, khách có thể đến bãi bồi Đất Mũi bằng cả đường thủy và đường bộ để được ngắm nhìn vùng đất cuối vùng của Tổ quốc. Khách cũng có thể thuê bo bo Từ TP Cà Mau lướt sóng theo dòng sông Trẹm để tới Hòn Đá Bạc để thăm thú một thắng cảnh nổi tiếng của Cà Mau và thưởng thức hải sản như hàu sống, cá bống mú, cá nâu…

Đến Vườn quốc gia U Minh Hạ, du khách sẽ được hít thở không khí trong lành, được chiêm ngưỡng và hòa nhập trong môi trường thiên nhiên. Vào các ngày nghỉ cuối tuần, du khách có thể cùng gia đình đến đây giăng lưới, đặt lờ, thả câu… để tìm cảm giác thảnh thơi nơi dưới những tán rừng êm ả, trổ tài nấu nướng những món ăn từ cá đồng, ngồi trong những ngôi nhà sàn mát rượi dưới rặng tràm xanh, vừa nhâm nhi ly rượu cay nồng vừa nghe hát vọng cổ.

Ngoài chim trời, cá nước, U Minh Hạ còn là nơi hội tụ nhiều loài động vật “rất Nam bộ”, như: heo rừng, nai, khỉ, sóc, kỳ đà, trăn, rắn, rùa…

Du lịch, GO! - Theo Vũ Châu (Báo Du Lịch), ảnh internet

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Đình Tân Long - ký ức một thời mở đất.

Tọa lạc tại ấp Tân Long, xã Long Thạnh, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu (cách trung tâm TP. Bạc Liêu khoảng 8km về hướng tây - bắc), đình Tân Long là nơi lưu giữ văn hóa truyền thống của cư dân địa phương. 
Đình cũng là một trong những điểm đến thú vị đối với du khách gần xa khi muốn hoài niệm về một thời khẩn hoang, mở đất của ông cha ngày xưa.

Đình được xây dựng vào thế kỷ XIX nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân trong vùng. Năm 1852, vua Tự Đức đã ban sắc phong thần cho đình Tân Long.

< Đình Tân Long cũ.

Ông tổng Nguyễn Tấn Lực là người khởi xây và phụng sắc đình thần Tân Long. Đương kim Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng là cháu đời thứ năm của ông Lực.

< Bên trong đình Tân Long cũ thờ Thành hoàng Bổn Cảnh.

Đình thờ Thành hoàng Bổn Cảnh và các vị tiền hiền có công với nước, làng xã. Năm 1972, đình thần Tân Long được di dời đến địa điểm mới, nằm gần kinh Cầu Sập, cách vị trí cũ chưa tới 1km. Đến năm 2000, người dân địa phương đã dựng lại ngôi đình trên nền đình cũ.

< Văn bia của dình Tân Long.

Tháng 9/2011, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành trùng tu, tôn tạo đình thần Tân Long. Tỉnh sẽ xây dựng ngôi đình chính, phục dựng, mua sắm một số vật dụng thờ cúng, cây xanh... Cùng với quá trình trùng tu, tôn tạo, tỉnh Bạc Liêu cũng gấp rút hoàn thành hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận đình thần Tân Long là di tích văn hóa - lịch sử.

< Đình Tân Long sau khi được trùng tu, tôn tạo.

Công trình tái thiết, trùng tu, tôn tạo đình Tân Long sau khi được hoàn thành là việc làm rất có ý nghĩa và quan trọng đối với nhân dân Bạc Liêu. Nơi đây không những là nơi lưu giữ văn hóa truyền thống của địa phương hình thành từ thời khẩn hoang, mở đất mà còn là nơi giáo dục truyền thống lịch sử, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người dân qua bao thế hệ.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Bạc Liêu, Công An và nhiều nguồn ảnh khác.

Cắm trại ở thảo nguyên Hòn Rơm

Chưa được biết nhiều như các địa danh khác ở Mũi Né song nếu một lần đặt chân đến thảo nguyên Hòn Rơm, bạn sẽ bị quyến rũ với vẻ hoang sơ hùng vĩ của cát trắng, biển xanh, của những ngọn đồi nhấp nhô hoa xương rồng, hàng dương xanh mát.

Thảo nguyên Hòn Rơm là một địa danh nhỏ thuộc Mũi Né, Bình Thuận. Để đến đây, bạn chỉ cần bắt xe khách hay xe bus tuyến Phan Thiết - Mũi Né - Hòn Rơm, khi xe chạy đến ngã 3 Hòn Rơm thì xuống xe, tham quan và tắm biển. Nghe đơn giản nhưng vì người dân địa phương không xem đây là một địa điểm du lịch, cánh tài xế càng không, nên bạn phải nhờ dừng xe cách Mũi Né khoảng 6-7 km là vừa đẹp.

< Đường vào thảo nguyên và bãi đá Hòn Rơm.

Thảo nguyên, còn gọi là bãi đá Hòn Rơm (Xem thêm) chính là đồi cỏ mênh mông bao phủ Hòn Rơm với 3 mặt giáp biển bằng những bãi đá sóng vỗ ì ầm quanh năm. Phía Tây Hòn Rơm, giáp triền đồi có Lăng Ông Nam Hải - nơi thờ cá ông.

Đến vào đầu tháng 11, khi những ngọn đồi phủ xanh cỏ hòa với màu xanh của biển, của hàng dương, chấm phá bởi những dải đá cuội nhiều hình dáng, hoa xương rồng và màu vàng hung của những chú bò thong thả gặm cỏ.

Tôi khá ngạc nhiên về tên gọi của địa danh này, đem thắc mắc hỏi anh bạn “thổ địa” thì được biết "Vào thời điểm này trong năm, khi những cơn mưa kịp tưới ướt từng milimet đất cát, nơi đây mới xanh ngọt như thế. Còn các tháng khác, cỏ khô cháy, trông xa, những ngọn đồi như những đụn rơm hanh hao vàng nên nó có tên như thế".

Mang vẻ đẹp của biển và thảo nguyên, Hòn Rơm mê hoặc bạn với hai vẻ đẹp đối lập. Đầu tiên là bức tranh hoang sơ tuyệt đẹp của những ngọn núi ôm gọn bãi biển, nơi có những triền cát trắng xóa, trải dài mềm mại, nước biển xanh biếc, trong veo. Từ trong bờ, phóng tầm mắt ra xa, những hòn đảo hoang sơ như tô điểm thêm vẻ đẹp ấy. Ngắm đã đã mắt, những con sóng bạc đầu nhẹ nhàng ôm triền cát còn hứa hẹn cuộc vẫy vùng với nước đầy niềm vui và tiếng cười.

Ngược với vẻ mềm mại của biển, những ngọn đồi phủ xanh cỏ, những bãi đá cuội nhiều kích cỡ, bụi cây thấp, xương rồng gai góc... không chỉ là background mà còn là đạo cụ cho những bức ảnh tyệt đẹp của bạn với bạn bè và người thân. Đây cũng là vị trí đắc địa cho những tối thả người nằm dài trên cỏ, ngắm trăng, đếm sao, nghe gió và biển vỗ về hay đêm hội trại với ánh lửa bập bùng, giọng hát mộc và tiếng ghi ta thanh mảnh.

Song thú vị nhất phải kể đến hàng dương, nơi sau khi thấm mệt với sóng, với cái nắng chói chang và những ngọn gió không ngừng thổi từ biển, bạn có thể “trốn” trong cái màu xanh mát ấy, bày thức ăn vui vẻ với bạn bè hay trải một tấm bạt nhỏ “đánh” một giấc dài không mộng mị.

Hướng dẫn thêm:

- Từ Sài Gòn bạn có thể đến thảo nguyên Hòn Rơm bằng cách mua vé xe tuyến Sài Gòn – Mũi Né. Giá vé xe dao động từ 130.000 – 150.000 đồng. Đi từ Phan Thiết thì mua vé xe bus tuyến Phan Thiết – Mũi Né – Hòn Rơm hay thuê xe máy ở Mũi Né.

- Bạn có thể đến đây vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Tuy nhiên những tháng cuối năm đồi cỏ sẽ xanh và đẹp hơn mùa hè.
- Nơi đây khá xa nhà dân nên cần mang theo thức ăn, nước uống.
- Bạn có thể mang bất kỳ trang phục gì khi đến đây nhưng nhớ mang đồ tắm.
- Mang kem chống nắng, áo khoác, mũ rộng vành để chống nắng.
- Mang lều, mền, nồi đa dụng nếu có ý định cắm trại. Lưu ý, số người cắm trại nên có ít nhất 10 người cả nam lẫn nữ.

< Trên đỉnh Hòn Rơm nhìn về hướng biển Suối Nước.

- Nếu có sức: hãy chạy xe hay cuốc bộ lên đỉnh Hòn Rơm để thưởng ngoạn cảnh trời đất bao la - dốc cao nên cẩn thận đấy.
- Bạn cũng có thể thuê phòng tại Mũi Né. Giá phòng ở đây dao động từ 250.000 (Ngày vắng, hãy trả giá chừng 150k thôi). Một số nhà nghỉ có mức giá tạm ổn ở khu vực trung tâm Mũi Né là Ngọc Hiền, Ý Lai...
Khu biển Suối Nước kề cận thảo nguyên cũng có khá nhiều resort, khách sạn với giá không mắt (vì rát vắng), bạn hãy tham khảo thử xem.

Du lịch, GO! - Tổng hợp thông tin từ Infonet, ảnh Dulichgo

Ngôi làng có biển số nhà

Khi đặt chân đến ngôi làng cổ Cự Đà nằm bên dòng sông Nhuệ này, khách xa mới nhận ra ở đây còn có những ngôi nhà hàng trăm năm tuổi đã được đánh số gần 1 thế kỷ qua.

Chưa vào đến Cự Đà (xã Cự Khê, huyện Thanh Oai), ngay từ thôn Khúc Thủy, chúng tôi đã được thỏa nhãn trầm trồ những ngôi nhà ngói 5 gian mang hồn quê mộc mạc được gắn biển đánh số như những đường phố văn minh của thủ đô Hà Nội.

Theo chỉ dẫn của người dân, tôi tìm đến nhà ông Trịnh Thế Sủng, chủ nhân của ngôi nhà cổ gần 300 năm còn lưu giữ vẹn nguyên nếp cũ đến tận bây giờ.

Đánh số nhà cổ 5 gian

Chiếc cổng gạch được đánh số 148 dẫn chúng tôi vào ngôi nhà ngói 5 gian với 35 cột gỗ xoan được chạm khắc hoa văn tinh xảo. Chủ nhân của ngôi nhà đi vắng nhưng chúng tôi vẫn không thể rời chân đi ngay được trước vẻ đẹp ẩn chứa nhiều trầm tích văn hóa của ngôi nhà cổ quý giá này. Ông Vũ Văn Thân (79 tuổi), phó ban bảo vệ di tích làng Cự Đà, cho biết: "Làng Cự Đà chúng tôi bắt đầu đánh số nhà từ những năm 34 - 35 của thế kỷ trước.

Thời điểm đó, khi thị xã Hà Đông còn chưa có điện thì Cự Đà đã đèn điện sáng choang và gắn biển số nhà. Có được sự văn minh như vậy là nhờ cụ Vũ Tư Đường khởi xướng. Cha cụ Tư Đường vốn là nhà buôn, đã ra Hà Nội sinh sống lập nghiệp từ thời trai trẻ. Cụ Tư Đường sinh trưởng ở đất Hà thành, có học chút ít chữ nho, sau chuyển sang học chữ Pháp ngay từ cuối thế kỷ 19. Cụ Tư Đường là người thông minh, hoạt bát và khéo léo.

Vào khoảng năm 1910 - 1920, cụ nổi danh làm ăn táo báo. Cụ vay tiền của Hãng địa ốc Pháp Crédit Foncier de l'Indochine xây dựng một dãy nhà đến 20 căn ở phố Bờ Sông gần Bến Nứa và chân cầu Doumer (Long Biên) để cho thuê kiếm lãi. Sau khi có vốn, cụ xoay sang mua một đoàn xe ca vài chục chiếc chạy tuyến đường Hà Nội - Sơn Tây - Trung Hà, cạnh tranh với hãng xe ca Mỹ Lâm đã có và nổi tiếng trước đó.

Đi nhiều biết nhiều, nhận thấy việc đánh biển số nhà của người Pháp rất văn minh trong quản lý hành chính nên cụ về bàn với hội đồng nhân dân làng học theo. Những nhà được đánh số phải được hội đồng nhân dân chứng nhận là đất chính chủ, còn những đất lấn chiếm, tương tự như không có "sổ đỏ" thời bây giờ, thì không được đeo biển".

Làng sang hơn tỉnh

Cũng theo ông Thân thì năm 1930, cụ Tư Đường lên lão 50. Cụ bàn với làng nên trồng cột điện đem điện khí về thắp sáng Cự Đà. Cụ ra Hà Nội mua các cột đèn đúc bằng gang của Pháp thải bỏ từ Phủ toàn quyền đem bán đấu giá. Cụ mua được 12 cái đem về Cự Đà trồng từ cửa nhà cụ ở đầu làng qua Miếu Thánh, đến chợ Đình Vật. Cứ cách đúng 50m một cột điện rất đẹp, đúc gang mỹ thuật, trên có cái chao đèn tráng men trắng bóng loáng, chụp đèn bằng thủy tinh mờ.

Sau đó cụ thuê máy phát điện của Tây Nhà đèn Hà Nội đưa về làng. Máy chạy bằng xăng nên những nhà nào muốn có điện thì phải tự kéo dây và đóng tiền mua xăng đổ vào máy. Thời ấy chưa có nhiều các thiết bị điện như bây giờ mà chủ yếu là thắp sáng bóng đèn. Cũng chỉ những nhà giàu trong làng mới có tiền để mua xăng, mua bóng.

Duy trì được 3 - 4 năm thì gặp giai đoạn kinh tế khủng hoảng, dân làng không ai có tiền để mua xăng chạy máy nữa. Vì thế đến năm 1982, các đồng chí ở Tỉnh ủy Hà Đông về thăm làng, thấy hàng cột điện đẹp đã vận động dân làng đổi cho tỉnh ủy để dựng ở khu nhà khách. Khi nào làng được kéo điện, tỉnh ủy sẽ đổi lại cho dãy cột bê tông. 10 cái cột được mang đi, hiện còn 2 cái ở gần phía ao làng vẫn đang vươn mình nâng đỡ những dòng điện phục vụ người dân.

Nói đến những ngôi nhà cổ trong làng, ông Thân cho biết: "Căn cứ vào các gia phả cổ và tư liệu sử học, khảo cổ thì Cự Đà là một làng cổ đã được thành lập cách nay khoảng 450 năm. Hiện nay, theo thống kê, làng còn khoảng 50 ngôi nhà có niên đại trên 100 năm tuổi gồm cả nhà theo kiến trúc Tây và nhà cổ thời Nguyễn với những xà, cột, cửa đều làm bằng gỗ có hoa văn đặc sắc. Ngôi nhà cao tuổi nhất còn lại đến giờ có tuổi thọ trên 200 năm. Một số ngôi nhà có niên đại cao hơn đã bị phá đi để xây nhà cao tầng. Đó là một mất mát lớn của làng chúng tôi về văn hóa".

Lý giải cho việc nhiều ngôi nhà cổ của Cự Đà còn lưu giữ được đến tận giờ, ông Thân nhớ lại: "Những ngôi nhà cổ đồ sộ, hoành tráng ở Cự Đà ngày xưa đều của các gia đình thương nhân đi buôn bán ở Hà Nội và khắp các tỉnh thành lớn trong cả nước. Phải đi làm ăn xa, họ thường nhờ người quen ở làng đến ở và trông coi giúp nhà cửa. Đến thời kỳ cải cách ruộng đất, một số ngôi nhà được thu hồi rồi được phân cho nông dân, một số ngôi nhà thì được chủ cũ sang nhượng lại cho người ở làng để chuyển đi nơi khác. Nhờ đó, làng mới giữ được nhiều nếp nhà cổ quý giá như hiện nay".

Tuy nhiên, ông Thân cũng không giấu được nỗi lo lắng hiển hiện trong đôi mắt già nua: "Trước đây các ngõ trong làng đều có cổng cái và cánh cửa gỗ lim. Xóm nào cũng có cổng trong cổng ngoài nghiêm ngặt. Buổi đêm cứ 9 giờ là đóng cổng, có trương tuần canh gác.

Từ khi người làng có nghề làm miến, người ta phá đi nhiều cổng cái để xe ô tô có thể vào lấy hàng. Cả làng giờ chỉ còn vài cái cổng như những kỷ niệm hiếm hoi. Nhiều ngôi nhà cổ bị phá bỏ để xây xưởng sản xuất, xây nhà cao tầng. Chẳng biết đến đời con cháu tôi, Cự Đà có còn hãnh diện là ngôi làng cổ độc đáo nữa hay không?".

Du lịch, GO! - Theo Dòng Đời, ảnh sưu tầm

Thăm đá ông Câu

Thạch Ky điếu tẩu (nghĩa là Lão câu ghềnh đá, Hòn đá ông Câu) là vùng non thanh thủy tú ở bờ nam cửa biển Sa Kỳ, thuộc thôn An Vĩnh, xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 16km, về phía Đông Bắc.

Tạo hóa quả là hào phóng khi ban tặng cho vùng biển cửa Sa Kỳ vẻ đẹp thiên nhiên quyến rũ, lấy sự hòa điệu của đá và nước, núi và biển làm nền. Phía Bắc là An Hải sa bàn với cát trắng và sóng êm; phía Nam là Thạch Ky điếu tẩu cùng lò rượu, dấu chân khổng lồ tạo hình từ những khối đá lô nhô, tạo thanh từ tiếng dội của nước vào hang đá. Chữ Ky trong cụm từ Thạch Ky điếu tẩu vừa có nghĩa là ghềnh đá, tảng đá ngầm dưới nước, vừa có nghĩa là nước dội vào đá (Nguyễn Văn Khôn; Hán Việt từ điển; 1960).

Người địa phương thường truyền khẩu: Ngày xưa, lúc vùng này còn là bể, có một ông khổng lồ gánh đá lấp cửa biển chỉ còn một đôi gánh nữa là xong nhưng vì có một gánh đá quá nặng, khi bước chân qua cửa biển, đòn gánh bị gãy, đá đổ hai bên cửa nay thành hai quả núi. Dấu chân ông khổng lồ còn in rõ và hang đá là lò nấu rượu của ông khổng lồ.

Nhô lên ở đôi bờ vụng Sa Kỳ là hai ngọn núi đất An Vĩnh (phía Nam) và An Hải (phía Bắc). Nghiêng xuống mé biển và kéo dài ra phía xa là những khối nham thạch màu đen, xốp bị các tác nhân xâm thực (nước biển, sóng, gió...) bào mòn không đồng đều, tạo thành những ghềnh đá, hang đá rộng hẹp nhiều hình dạng, vết lõm trên mặt đá phẳng, những khối đá sót nhấp nhô hoặc vươn cao khỏi mặt nước, những viên đá vỡ nhiều kích cỡ mà các nhà địa chất gọi là “viên than núi lửa”...

Sự đồng nhất về cấu tạo địa chất của các khối đá, vụn đá ở Sa Kỳ cho phép phỏng đoán về hoạt động của một núi lửa vào thời điểm cách chúng ta nhiều chục vạn năm khiến dung nham từ trong ruột địa cầu phun trào lên khỏi mặt đất, đổ tràn ra mé biển, ùa xuống vụng nước Sa Kỳ, sau đó đông kết thành khối phún xuất thạch đè lên nền đất đá trầm tích.

Từ những khối đá, ghềnh đá này, trong khung cảnh thiên nhiên bao la biển cả, phóng khoáng mây trời mà con người hình dung thành “lão câu ghềnh đá”, “lò rượu”, “bàn chân khổng lồ”, lại gắn vào đó nhiều tích truyện lý thú, kích thích trí tưởng tượng của các thế hệ tao nhân mặc khách...

Nhờ tựa vào những ghềnh đá, hốc đá mà các loài hải sản sống ở đây nhiều hơn hẳn các vùng ven biển khác, trong đó có những thức mà giới sành điệu về ẩm thực gọi là “hảo hạng”: cá hồng, cá đối, cá kè, cá hanh, cua huỳnh đế, ghẹ, chình biển, rắn biển, nhum, rau câu, rau chân vịt...

Hình ảnh quen thuộc và cũng khá nên thơ của Thạch Ky điếu tẩu là những mõm đá, hang đá nổi chìm nhiều dạng, lũ trẻ vui đùa cùng sóng nước, vài chiếc thúng câu nhấp nhô, mấy người buông lưới rồi dùng chiếc sào đập lên mặt nước tạo thành dãy âm thanh bì bập lùa cá, phía xa xa, cheo leo trên mõm đá là nhóm người ngồi câu.

Mấy năm gần đây, con nhum (một loài nhuyển thể, làm mắm rất ngon, ngày xưa phải tiến vua, nên gọi là mắm ngự, mắm tiến) vốn có nhiều ở vùng biển Thạch Bi (Đức Phổ) lại sinh sôi ở đây khá nhiều. Vào mùa bắt nhum, từng cặp vợ chồng trẻ dắt nhau ra gành đá, chồng lặn sâu, mò vào hốc đá bắt nhum, vợ ngồi trên bờ bóc vỏ nhum, lấy từng muối thịt đỏ hồng để đem về làm mắm.

Thứ mắm có hương vị đặc biệt, ai một lần ăn thì nhớ để đời. Đến trưa, người bắt nhum, người câu cá, người quăng chài rủ nhau quây quần trên một phiến đá rộng cùng ăn trưa, cười nói râm ran.

Nước xanh biêng biếc, sóng biển rì rào, mấy hạt cát li ti vương trên những khuôn mặt sạm nắng và gió bất chợt lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Du lịch, GO! - Theo Lê Hồng Khánh (báo Du Lịch), ảnh từ internet