Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Nâng cấp QL25 - Đèo Chư Sê và đèo Tô Na.

Dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 25 (từ năm 2010) từ Gia Lai đi Phú Yên với kinh phí khoảng 2.076 tỷ đồng đã khai rộng một trong những lối ra biển gần nhất cho Tây Nguyên.

< QL25, ngày xưa là đường 7.

Đường 7, nay là quốc lộ 25 đi qua địa phận hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên có chiều dài 181km được người Pháp xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XX. Điểm đầu của đường nối với quốc lộ 1A tại km1332 thuộc địa phận TP. Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên) và điểm cuối giao với quốc lộ 14 tại km567+ 800, thuộc địa phận huyện Chư Sê (tỉnh Gia Lai).

Trên tuyến QL này có đèo Chư Sê và đèo Tô Na:

< Đèo Chư Sê.

- Đèo Chư Sê là ranh giới giữa hai huyện Chư Sê và A Yun Pa. Đèo thuộc xã H Bông, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Trên đỉnh đèo Chư Sê có những cánh đồng cỏ rộng hàng ngàn ha với nhiều trang trại nuôi bò với quy mô lớn dọc hai bên đường lộ... tạo ra một khu dân cư nhỏ được mệnh danh là xóm bò hay xóm cao bồi. Dân ở đây hầu như đều chăn bò thuê, có nhà nhận đến cả trăm con.

< Đèo Tô Na.

- Đèo Tô Na là ranh giới tự nhiên giữa thị xã Ayun Pa và huyện Krông Pa, Gia Lai. Tuy chiều dài chỉ khoảng 3 km nhưng nhiều đoạn cua gấp, đường hẹp, xuống cấp nên rất nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Xe có trọng tải lớn, xe khách khó lưu thông khi qua đèo Tô Na nên phần lớn vẫn chọn quốc lộ 19.

Trải qua một thời gian dài quốc lộ 25 bị lãng quên đầu tư nên đã xuống cấp trầm trọng. Theo đánh giá của Cục Đường bộ Việt Nam lúc ấy, hiện trạng quốc lộ 25 chỉ đạt tiêu chuẩn đường cấp V miền núi - cấp đường thấp nhất hiện nay. Trên tuyến có nhiều đoạn đường đèo chỉ rộng 3,5 - 4,5m (đèo Tô Na thuộc địa phận huyện Krông Pa - Gia Lai), lớp láng nhựa mặt đường bị bong bật khá nhiều, đó là chưa kể đến việc có tới 34 cầu cũ tải trọng thấp đã bị hư hỏng nặng.

Do đó từ lâu, quốc lộ 25 đã mất sức cạnh tranh về chuyên chở hàng hóa, hành khách so với quốc lộ 19 (từ phố núi Pleiku xuống thành phố biển Quy Nhơn và ngược lại). Cùng với đó, bộ mặt kinh tế xã hội của các địa phương dọc theo quốc lộ 25 cũng chậm phát triển hơn so với nhiều tuyến đường khác. Vì thế, nhu cầu cấp thiết về mở rộng, nâng cấp để "đánh thức" quốc lộ 25 đã trở thành niềm khát khao của hàng triệu đồng bào Tây Nguyên từ nhiều năm nay.

Dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp quốc lộ 25 từ Gia Lai đi Phú Yên với tổng chiều dài gần 100km được thông qua với tổng mức đầu tư 2.076 tỷ đồng. Theo dự án, quốc lộ 25 được đầu tư mở rộng, nâng cấp theo tiêu chuẩn đường cấp III miền núi, nền đường rộng 9 mét, mặt đường rộng 6 mét, đạt tốc độ thiết kế 60km/giờ. Toàn bộ mặt đường thuộc dự án sẽ được trải bê tông nhún cấp cao dày 12cm. Hướng tuyến cơ bản vẫn đi theo quốc lộ 25 hiện tại (có nắn chỉnh cục bộ) để phù hợp với cấp đường - Toàn dự án có 13 cầu được xây mới, trong đó có 2 cầu lớn, 3 cầu trung và 8 cầu nhỏ. Dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2012.

Cùng với quốc lộ 19, quốc lộ 25 khi hoàn thành sẽ là trục quốc lộ thứ hai trong vùng Bắc Tây Nguyên nối liền hai trục xuyên quốc gia là quốc lộ 1A và quốc lộ 14, đồng thời cũng là một trong hai tuyến đường nối Tây Nguyên tới các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ. Không những tạo ra một lối ra biển gần nhất cho Tây Nguyên mà còn “đánh thức” tiềm năng phát triển kinh tế- xã hội nhiều tỉnh thành của Việt Nam, Lào và Campuchia.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Biển Ba động - Trà Vinh

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ Cần Giờ xuống tới Cà Mau là vùng biển phù sa nhưng riêng Trà Vinh có những bãi cát dài và đẹp, thích hợp cho việc tắm biển và nghỉ mát - Trong đó, nổi tiếng nhất là bãi biển Ba Động.

Ba Động là tên gọi chung của một bãi cát biển dài gần chục cây số thuộc xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải, cách thị xã Trà Vinh hơn 60 cây số về hướng Đông Nam. Tại đây, từ đầu thế kỷ XX đã hình thành khu tắm biển, nghỉ dưỡng. Ngày nay, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và người dân địa phương đã đầu tư hình thành khu du lịch với nhiều loại hình sản phẩm tiện dụng và phong phú như tắm biển, nhà hàng, khách sạn, giải trí, quà lưu niệm…

Từ những nhà hàng, khách sạn tiện nghi nép mình trong rừng dương rì rào gió biển, khách du lịch có thể phóng tầm mắt ra phía trùng dương thăm thẳm. Ở đó có những đoàn thuyền đánh cá ngày đêm ngược xuôi cần mẫn, mang nguồn lợi vô tận của biển khơi làm giàu cho quê hương, Tổ quốc.

Ở khu du lịch này, du khách có thể thưởng thức nhiều loại đặc sản biển tươi sống với giá rẻ đến không ngờ.

Tại Ba Động, du khách còn có thể tham gia những chuyến du khảo tìm hiểu lịch sử khai hoang mở đất và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm hào hùng của xã “Trường Long Hòa sắt thép”, của huyện “Duyên Hải căn cứ anh hùng” với những chiến công như huyền thoại cùng các di tích Bến tiếp nhận vũ khí từ đường Hồ Chí Minh trên biển (Cồn Tàu), khu căn cứ Tỉnh ủy Trà Vinh (Giồng Giếng)…; du khảo sinh thái với những dãy rừng ngập mặn Trường Long Hòa, Long Khánh…; thưởng thức nhiều loại sản vật đã trở thành đặc sản của vùng quê ven biển này như dưa hấu Ba Động, nghêu Nhà Mát, tôm sú Cồn Cù, đuôn Chà là, cá Kèo kho gợt – Chù ụ rang me, nước mắm Rươi…

Ba Động đang là một địa chỉ du lịch ngắn ngày hấp dẫn hướng tới đối tượng đông đảo khách có thu nhập trung bình như công chức, thanh niên, học sinh, công nhân lao động cùng gia đình trên địa bàn Trà Vinh và các tỉnh lân cận. Những ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần, nhất là dịp Tết Nguyên đán… cả bãi biển Ba Động như bức tranh nhiều màu sắc, sôi động, vui tươi với hàng chục ngàn khách du lịch gần xa tìm về tham quan, nghỉ dưỡng.

Du lịch, GO! - Nguồn internet

Đồng vọng trăm năm giữa mùa nước nổi

Dù có sống gắn bó cả đời, cũng chắc gì ai đó hiểu được văn hóa mùa nước nổi. Nó phóng khoáng, lồ lộ vậy, mà trải dài mấy trăm năm vẫn còn ươm giữ bao điều kỳ thú, bí ẩn. Chỉ riêng cái bản sắc văn hóa xung quanh Búng Bình Thiên (còn gọi là Hồ nước Trời ở An Phú, An Giang), rộng có mấy trăm hecta, mà hình như “đi hoài” cũng chưa hết.

Vậy nên, cứ mỗi năm phong thanh nghe nước đổ đầu nguồn, là bao người lại nôn nao “ngược dòng” lên thăm mùa nước nổi. Những chuyến đi về ấy chỉ làm cho người ta thêm… ấm ức, vẫn thấy thiếu thiếu cái gì đó đối với những kẻ xa quê, hay những khách lạ đôi lần ghé lại. Bởi nó là chiều sâu của sự giao thoa văn hóa, tập tục sinh hoạt của hai dân tộc Kinh và Chăm với vốn sống gắn bó, hài hòa cùng với thiên nhiên sông nước.

Nó có nhiều thứ rất giống nhau mà vẫn giữ nét đặc trưng riêng, từ cái cách đội khăn của các bà, các cô, từ chiếc xuồng đi lại mùa nước nổi, đến những căn nhà ngó mặt ra sông, cả bến nước thân thương trong sinh hoạt hằng ngày… nhưng vẫn nhận diện rõ sự khác biệt giữa văn hóa Chăm và văn hóa người Kinh Nam Bộ.

Nhà thơ Lê Thanh My - Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật An Giang, bao nhiêu năm “mê mẩn” văn hóa Chăm, mà vẫn cho rằng mình chưa biết hết chiếc khăn matơra của các cô gái Chăm.

Chiếc khăn đội đầu làm nên nét duyên của con gái Chăm, làm cho đôi mắt vốn sâu thẳm càng thêm bí ẩn, quyến rũ ấy có không dưới 50 kiểu dáng. Ngoài ra, có cả một kho tàng văn hóa dân gian độc đáo: kiến trúc nhà ở, tập tục cưới hỏi, chôn cất, ẩm thực… Đó vẫn còn là thách thức với các nhà nghiên cứu, vì những tài liệu, ghi chép cho đến nay vẫn chưa thể gọi là chính thống.

Do trước năm 1975, người Chăm sống khá khép kín gần như “ẩn cư”. Người An Giang ngày xưa những ai giao lưu với người Chăm thường là người đi bán dạo các loại kim chỉ, dầu gió, các vòng trang sức đeo tay… đựng trong các hộp gỗ dẹp hình chữ nhật, mặt trên có lộng kính. Đặc biệt hơn nữa, với chiếc khăn rằn mà người miền Tây thường gọi là khăn choàng tắm, những ai từng sống bằng nghề dệt lụa, rồi sau này là lãnh Mỹ A đều biết nó xuất phát từ miệt Tân Châu. Đó cũng chính là nơi có làng dệt thổ cẩm nổi tiếng nhất, đẹp nhất của cộng đồng người Chăm còn lưu giữ đến ngày nay, giờ là ấp Phủm Soài, xã Châu Phong, huyện Tân Châu.

Người Chăm ở An Giang hiện nay, sống tập trung ở các huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Châu Thành.

Mãi đến những năm 80 của thế kỷ trước, các cô gái Chăm sắp đến tuổi thành niên còn phải gò bó trong tục ga- sâm (cấm cung). Người có thể gọi là có công lớn mở ra sự giao lưu mạnh mẽ của người Chăm với văn hóa văn minh hiện đại, là nhạc sĩ Lâm Thanh Bình hiện là Trưởng Ban Tuyên giáo huyện An Phú. Ông đã lần đầu tiên lập đội văn nghệ quần chúng và mời được năm cô gái Chăm cùng tham gia biểu diễn.

Đến nay, người Chăm An Giang đã bỏ hẳn tục ga- sâm. Nhạc sĩ Lâm Thanh Bình cũng chính là người Kinh có những nhiều sáng tác Chăm, trong đó nổi tiếng cả nước với tổ khúc “Karim và Norisa”.
Thật may mắn, ngay trong lần Liên hoan văn hóa Chăm- lễ hội mùa nước nổi lần thứ nhất, năm 2003, tôi đã được tham dự trọn vẹn trong ba ngày đêm ở Búng Bình Thiên. Đến nay, sau bảy lần được tổ chức, lễ hội đã trở thành ngày hội chung của cả cộng đồng cư dân sống trên mùa nước nổi đầu nguồn.

Nhớ lần lễ hội mùa nước nổi lần thứ nhất, năm 2003, Ban tổ chức đưa đoàn đại biểu đi thuyền từ Búng Bình Thiên sang bên kia biên giới Campuchia. Khi thuyền đến ngã ba, có con kênh nhỏ nối với sông Bình Di, mọi người đều ngạc nhiên trước hiện tượng thiên nhiên vô cùng độc đáo. Khi sau lưng, là Búng Bình Thiên trong xanh ngăn ngắt, mặt nước phẳng lặng như gương; phía trước lại là con sông ngầu đỏ phù sa, nước từ thượng nguồn đổ xuống ầm ầm như thác.



Các vị lãnh đạo ngành du lịch, các nhà lữ hành đều trầm trồ công nhận, đây sẽ là sản phẩm du lịch hấp dẫn, quyến rũ, nếu nối tuyến du thuyền đưa khách từ hạ lưu sông Mekong, sang bên kia biên giới Campuchia mùa nước nổi. Ngay sau đó, đã có nhiều tour mời gọi về An Phú và hiện có nhiều du thuyền đua du khách băng đồng mùa nước nổi. Dù rằng, những dự án mời gọi xây dựng các khu du lịch trên Búng Bình Thiên, cho đến giờ chưa thấy nhà đầu tư nào tham gia, riêng tôi lại thấy vậy mà hay. Vì biết đâu du lịch không khéo sẽ làm hỏng đi “viên ngọc quý” đầu nguồn, có thể xâm thực cả nền văn hóa còn được bảo tồn khá trọn vẹn của người Chăm An Giang.

Búng Bình Thiên là hồ nước ngọt tiếp giáp ba xã biên giới của huyện An Phú là: Khánh Bình, Khánh An và Nhơn Hội. Hồ rộng khoảng 300 ha, nhận nước từ sông Bình Di chảy vào. Vào mùa nước nổi, Búng Bình Thiên trở nên mênh mông gấp đôi. Nhưng quanh năm, dù có theo thủy chế bán nhật triều của sông Mekong, mặt nước vẫn tuyệt không gợn sóng, phẳng lặng như gương và trong xanh đến lạ.
Nhiều người liên tưởng, con gái Chăm mỗi ngày ra bến nước soi mặt xuống “chiếc gương trời” kỳ diệu ấy, mà đôi mắt đã đẹp càng đẹp thêm. Thật ra, chính bản sắc văn hóa đã làm nên tâm hồn sâu lắng, toát ra từ vẻ thanh thoát, kín đáo ẩn nép sau rèm khăn Matơra duyên dáng.



Văn hóa đã làm nên những đêm hội Búng Bình Thiên lung linh, huyền ảo. Dưới bến nước, trước thánh đường Hồi giáo Mas Jid Khoy Ry yah (Nhơn Hội), những điệu múa như bước ra từ huyền thoại “nghìn lẻ một đêm”; trong tiếng trống bập bùng rộn rã, nhưng vẫn nghe da diết, vời vợi với tiếng hát vút cao, xa vắng của cô gái Chăm “thổn thức” nỗi niềm trong “Bến nước tình yêu” của Amunhan: “Nế… a… nê… a nế à nề… a nê… Chiều nay trên bến nước nghe tiếng hát ai như ru, lòng em đang xao xuyến ôi lưu luyến đôi duyên tình…”.

Có mối quan hệ mật thiết nào đó giữa những bí ẩn của Búng Bình Thiên và cô gái Chăm. Cả hai cùng có vẻ đẹp vừa hoang sơ, vừa sâu kín mà như đầy ẩn ức; vẻ đẹp mà càng cố gắng nắm bắt, càng cố gắng giải thích, thì nó càng trở nên xa xôi, huyền bí. Xa xôi như lời hát Chăm trôi bềnh bồng trong mỗi mùa lễ hội.
Hình như, tất cả đều ở trong một thế giới đầy liêu trai và thoát tục nào đấy. Có lẽ, chính vì thế mà bao năm qua, Búng Bình Thiên vẫn mãi là một điều gì đấy bí ẩn mà nhiều người chưa thể khám phá được.

Cũng chính vì thế, mà người phương xa cứ bồn chồn đợi mùa lễ hội, rồi lại tìm về với bến hẹn Búng Bình Thiên.

Du lịch, GO! - Theo Quang Thuần (PNO), internet

Du ngoạn xứ chùa Khmer

Vùng đất Trà Vinh nổi tiếng không chỉ bởi biển Ba Động, ao Bà Om mà còn là nơi có nhiều chùa Khmer nhất Việt Nam. Nơi này có hơn 140 ngôi chùa Khmer lớn, nhỏ với muôn vàn vẻ đẹp độc đáo…

Vào những dịp lễ hội lớn trong năm hay Tết cổ truyền của người Khmer Chôl Chnăm Thmây (giữa tháng Tư hằng năm), khách thập phương cùng dân ở các phum, sóc thường về chùa trẩy hội để cầu an, cầu phước lộc và may mắn. Trong văn hóa người Khmer, ngôi chùa luôn đồng hành cùng với sự trưởng thành của từng lớp thanh niên Khmer. Mỗi chàng trai Khmer khi lớn lên hầu hết đều phải vào chùa học cách tu thân để báo hiếu cha mẹ và học văn hóa, rồi mới lập gia đình riêng.

Chùa Âng với sự tích “thách cưới” ao Bà Om

Trong số hàng trăm ngôi chùa nổi tiếng xứ Trà Vinh, không thể không kể đến chùa Âng (tên Khmer gọi là AngKorra Jaborey), nằm cạnh Nhà Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer. Là một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất vùng đất này, chùa Âng nằm lặng lẽ bên ao Bà Om. Chánh điện của chùa có 60 chiếc cột gỗ gõ được chạm khắc tinh xảo, in các hoa văn, họa tiết về rắn thần Naga, những bức tượng người đầu chim, đầu thần Bayon bốn mặt, tượng chằn Yeak… Trên mỗi cột luôn có tượng của thần Krud và chim thần Kayno đặt ở vị trí áp mái với mong muốn các vị thần sẽ che chở đem đến sự an bình cho chùa.

Tô điểm cho chùa Âng là ao Bà Om rộng lớn, luôn bảng lảng sương khói. Quanh ao có hàng trăm cây sao, cây dầu cổ thụ với những bộ rễ trồi khỏi mặt đất, tạo nên những hình thù kỳ dị. Cảnh trí ao Bà Om rất lãng mạn nên đã trở thành nơi các cặp uyên ương đến vui chơi, chụp hình cưới. Ngoài khung cảnh nên thơ, ao này còn gắn liền với một sự tích lý thú.

Tương truyền xưa kia, trong một lần hạn hán, dân làng tổ chức cho nam nữ trong làng thi đào ao nhanh trong một đêm để lấy nước sinh hoạt. Đây cũng là một cách thú vị giải quyết mối bất hòa đôi bên xưa nay là: bên nào thua cuộc sẽ là người chủ động đi hỏi cưới bên thắng cuộc. Bên nữ do một người đứng đầu tên Om chỉ huy đã dùng nhiều mưu hay nên thắng cuộc. Từ đó, ao này được gọi là ao Bà Om và người Khmer có tục lệ người con trai phải đi hỏi cưới con gái.

Chùa Hang có kinh lá buông

Chùa Hang còn gọi là Kom Pông Chrây, thuộc huyện Châu Thành, cách thị xã Trà Vinh 4km, được xây dựng năm 1637. Chùa Hang có kiến trúc như một hang động nằm giữa cánh rừng nhiệt đới với đủ loại trái cây. Nhiều cây cổ thụ san sát nhau vươn mình đâm thẳng lên trời, là nơi trú ẩn của vô số loài chim muông: cò, vạc, sáo…

Đặc biệt, chùa Hang cũng là một trong những nơi còn sót lại giống cây buông. Lá của cây này được dùng làm kinh lá, còn gọi là “kinh lá buông”, mang ý nghĩa từ bi - hỷ xả của nhà Phật.

Người dân Khmer thường đến chùa Hang để tìm sự thanh tịnh. Chùa Hang còn nổi tiếng với một xưởng điêu khắc gỗ khổng lồ. Từ những gốc sao thô mộc, qua bàn tay khéo léo của các nhà sư, những bức tượng mang dáng hình muôn thú được tạo nên vô cùng sống động.

Đến xứ chùa, đắm mình trong không gian thanh tịnh, chúng tôi ước thời gian ngừng trôi để được tận hưởng thêm phút giây thanh bình, an lạc…

Du lịch, GO! - Theo Minh Thi - M.Thuận (Phunuonline)

Từ Vạn Giã: gió biển, mưa dầm lên Đạ Sar (P12)

(Tiếp theo)
Sáng ngày thứ 3 của chuyến đi sẽ là nhiệm vụ thực thi phần 'lê lết' lên Hòn Bà: một Đà Lạt của riêng Khánh Hòa. Vậy nhưng trước tiên là cần giải quyết buổi điểm tâm và ly cà phê sáng cho tỉnh táo. Tiện đây, mình cũng sẽ đề cập đôi nét về thành phố này từ thông tin của tự điển Wiki và những nguồn khác.

< Chợ Hòn Xện là một chợ nhỏ ngay khu dân cư cùng tên, kề cận bến xe buýt.

Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam. Trước khi trở thành phần đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc về Chiêm Thành. Các di tích của người Chăm vẫn còn tại nhiều nơi ở Nha Trang.

< Bún bò tại Hòn Xện (20k) đủ chất. Thêm tý rau và 'dứt' một tô là đủ no đến trưa - cà phê thì 5k.
Khu Hòn Xện còn thưa dân nên có người lạ thì dân địa phương biết ngay khách du lịch, vậy nhưng không có chuyện 'chặt chém' gì.

Ngày 22 tháng 4 năm 2009, Nha Trang được công nhận là đô thị loại 1 - đây là một trong 8 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh. Nơi đây cũng được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông, Viên ngọc xanh vì giá trị thiên nhiên, sắc đẹp cũng như khí hậu của vùng đất này.

< Xe buýt Hòn Xện: bạn có thể theo tuyến chạy ra trung tâm hay tận QL1A.

Thành phố Nha Trang hiện nay có diện tích tự nhiên là 251 km² với dân số 392.279 (năm 2009). Về địa giới: Phía Bắc giáp thị xã Ninh Hòa, phía Nam giáp huyện Cam Lâm, phía Tây giáp huyện Diên Khánh, phía Đông giáp Biển Đông.

Địa hình Nha Trang khá phức tạp có độ cao trải dài từ 0 đến 900 m so với mặt nước biển được chia thành 3 vùng địa hình.
< Chợ nằm ven khu đất trống, dự kiến sau này sẽ xây chợ cùng bến xe buýt.

Vùng đồng bằng duyên hải và ven sông Cái có diện tích khoảng 81,3 km², chiếm 32,33% diện tích toàn thành phố; vùng chuyển tiếp và các đồi thấp có độ dốc từ 3° đến 15° chủ yếu nằm ở phía Tây và Đông Nam hoặc trên các đảo nhỏ chiếm 36,24% diện tích, vùng núi có địa hình dốc trên 15° phân bố ở hai đầu Bắc-Nam thành phố, trên đảo Hòn Tre và một số đảo đá chiếm 31,43% diện tích toàn thành phố.
< No và tỉnh táo rồi thì bọn mình về hotel, lấy đồ đi Hòn Bà. 'Đồ' đây là áo mưa và bộ phụ tùng sửa xe.

Nha Trang nằm ở phía Đông Đồng bằng Diên Khánh - Nha Trang. Một đồng bằng được bồi lấp bởi sông Cái Nha Trang có diện tích gần 300 km², địa hình đồng bằng bị phân hóa mạnh:
- Phần phía Tây dọc sông Chò từ Khánh Bình đến Diên Đồng bị bóc mòn, độ cao tuyệt đối khoảng 10–20 m

< Cổng chào 'tái ngộ' của thành phố Nha Trang trên đường 23 tháng 10, nhưng bọn này chưa về đâu mà chỉ tạm rời xa.

- Phần phía Đông là địa hình tích tụ độ cao tuyệt đối dưới 10m, bề mặt địa hình bị phân cắt mạnh bởi các dòng chảy.
< Trong thành phố thì đường này có tên 23 tháng 10...

Thành phố có nhiều sông suối tập trung ở 2 hệ thống sông chính là sông Cái Nha Trang và sông Quán Trường.
- Sông Cái Nha Trang (còn có tên gọi là sông Phú Lộc, sông Cù) có chiều dài 75 km, bắt nguồn từ đỉnh Chư Tgo cao 1.475 m, chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh và thành phố Nha Trang rồi đổ ra biển ở Cửa Lớn (Đại Cù Huân).


< Nhưng ra khỏi thành phố là QL1A. Xe đường dài nếu không ghé Nha Trang sẽ theo đường tránh thành phố.
Ảnh là cầu Suối Đá trên QL1A.

- Sông Quán Trường (hay Quán Tường) là 1 hệ thống sông nhỏ có chiều dài khoảng 15 km, chảy qua địa phận các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thái, Phước Đồng và 3 phường Phước Long, Phước Hải, Vĩnh Trường rồi đổ ra Cửa Bé. Sông chia thành 2 nhánh: nhánh phía Đông (nhánh chính) có chiều dài 9 km và nhánh phía Tây (còn gọi là sông Tắc) dài 6 km.
Nha Trang có khí hậu nhiệt đới xavan chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 26,3°C. Có mùa đông ít lạnh và mùa khô kéo dài.

Mùa mưa lệch về mùa đông bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025 mm). Khoảng 10 đến 20% số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7, 8 hoặc kết thúc sớm vào tháng 11.

< Trước khi đến ngã 3 lên Hòn Bà sẽ có bảng chỉ đường: 'Khu du lịch Waterland Suối Thạch Lâm', cũng là đường vào Hòn Bà.
Mình rẽ vào và chạy vào một khoảng, lại thấy bảng: kỳ này có đủ.

< Và chắc chắn không thể lạc đường vì từ khúc này trở đi, bảng hướng dẫn có tại mỗi ngã rẽ.

Lịch sử hình thành Nha Trang:

Từ 1653 đến giữa thế kỷ XIX, Nha Trang vẫn là một vùng đất còn hoang vu và nhiều thú dữ thuộc Hà Bạc, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh. Chỉ qua hai thập niên đầu thế kỷ XX, bộ mặt Nha Trang đã thay đổi nhanh chóng.

< Đường khúc này khá rộng do vào khu dân cư và hồ Suối Dầu thuộc xã Suối Cát.

Với Nghị định ngày 30 tháng 8 năm 1924 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang trở thành một thị trấn (centre urbain). Thị trấn Nha Trang hình thành từ các làng cổ: Xương Huân, Phương Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phước Hải.
< Rẽ trái là vào khu dân cư còn phải là đi Hòn Bà, cũng có bảng chỉ dẫn.

Thời Pháp thuộc, Nha Trang được coi là tỉnh lỵ (chef lieu) của tỉnh Khánh Hòa. Các cơ quan chuyên môn của chính quyền thuộc địa như Tòa Công sứ, Giám binh, Nha Thương chánh, Bưu điện… đều đặt tại Nha Trang. Tuy nhiên, các cơ quan Nam triều như dinh quan Tuần vũ, Án sát (coi về hành chánh, tư pháp), Lãnh binh (coi việc trật tự trị an) vẫn đóng ở Thành Diên Khánh (cách Nha Trang 10km về phía Tây Nam).
< Ngã rẽ trái vào KDL suối Thạch Lâm, bọn mình không khoái KDL nên chạy thẳng hướng lên Hòn Bà.

Đến Nghị định ngày 7 tháng 5 năm 1937 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang được nâng lên thị xã (commune). Lúc mới thành lập, thị xã Nha Trang có 5 phường: Xương Huân là phường đệ nhất, Phương Câu là phường đệ nhị, Vạn Thạnh là phường đệ tam, Phương Sài là phường đệ tứ, Phước Hải là phường đệ ngũ.
< Rẽ trái là vào hồ Suối Dầu, thẳng là Hòn Bà. Đây là tấm bảng cuối vì đường lúc này chỉ trực chỉ lên núi.

Ngày 27 tháng 1 năm 1958, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Nghị định 18-BNV bãi bỏ quy chế thị xã, chia Nha Trang thành 2 xã là Nha Trang Đông và Nha Trang Tây thuộc quận Vĩnh Xương.
< Nhưng chạy qua bảng rồi vẫn chưa thấy ngã 3...

Ngày 22 tháng 10 năm 1970, sắc lệnh số 132-SL/NV của chính quyền VNCH lấy 2 xã Nha Trang Đông, Nha Trang Tây và các xã Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên, các ấp Phước Hải (xã Vĩnh Thái), Vĩnh Điềm Hạ (xã Vĩnh Hiệp), Ngọc Thảo, Ngọc Hội, Lư Cấm (xã Vĩnh Ngọc) thuộc quận Vĩnh Xương cùng các hải đảo Hòn Lớn, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Miễu, Hòn Tằm tái lập thị xã Nha Trang, tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa.
< À, ngã 3 đây. Thấp thoáng xa xa là hồ Suối Dầu rộng lớn.

Thị xã Nha Trang chia làm 2 quận: quận 1 và quận 2. Quận 1 gồm các xã Nha Trang Đông, Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, các ấp Ngọc Thảo, Ngọc Hội và Lư Cấm thuộc xã Vĩnh Ngọc, ấp Vĩnh Điềm Hạ thuộc xã Vĩnh Hiệp; Quận 2 gồm các xã Nha Trang Tây, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên (kể cả các đảo Hòn Tre, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Tằm), ấp Phước Hải của xã Vĩnh Thái.
< Nhánh chạy ven bờ hồ, thẳng xuống cửa lấy nước.

Tiếp đó, nghị định số 357-ĐUHC/NC/NĐ ngày 5 tháng 6 năm 1971 chia thị xã Nha Trang thành 11 khu phố: quận 1 có các khu phố Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Ngọc Hiệp, Vạn Thạnh, Duy Tân; Quận 2 có các khu phố Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Phương Sài, Tân Phước, Tân Lập, Phước Hải. Đến Nghị định số 553-BNV/HCĐP/NV ngày 22 tháng 8 năm 1972 đổi các khu phố thành phường...
< Hồ Suối Dầu được xây dựng vào năm 2001 từ chủ trương phục vụ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh tỉnh Khánh Hòa. Vì lợi ích chung, nhân dân ở hai xã Suối Tân và Suối Cát đã đồng tình hưởng ứng và nhận được tiền đền bù diện tích đất bị thu hồi để xây dựng.

< Đến năm 2006, hồ chứa nước Suối Dầu đã được đưa vào khai thác. Hồ chứa nước Suối Dầu là công trình trọng điểm của tỉnh Khánh Hòa, có nhiệm vụ: Tưới cho diện tích canh tác 3700 ha đất nông nghiệp; cấp nước cho KCN Suối Dầu và dân sinh; góp phần hạn chế lũ, chống xói bồi, cải tạo môi trường, cảnh quan du lịch và nuôi trồng thủy sản nước ngọt.

< Hồ chứa nước nằm ngay trên đường đi lên Hòn Bà, mặt hồ phẳng lặng với vài cù lao nhỏ và khung cảnh nơi đây khá đẹp, có thể nhìn thấy từ nhiều hướng.
Ảnh là một chị gái chạy xe, phía sau chở một thân chuối. Thời khó khăn: thân chuối thường được xắt làm thức ăn cho heo - lõi củ chuối thì làm gỏi. Còn bây giờ không biết để làm gì.

< Hồ Suối Dầu có diện tích lớn, đường lên Hòn Bà lại chạy vòng quanh hàng chục km nên tha hồ tìm những góc ảnh đẹp.

... Nghị định số 444-BNV/HCĐP/26.X ngày 3 tháng 9 năm 1974 sáp nhập các đảo Hòn Một, Hòn Cậu, Hòn Đụn, Hòn Chóp Vung, Hòn Đỏ vào phường Vĩnh Hải (quận 1) và Hòn Ngọc vào phường Vĩnh Nguyên (quận 2) thị xã Nha Trang.
< Chuối con mọc ven hồ khá nhiều, chả cần ai trồng cả.

Ngày 2 tháng 4 năm 1975, Quân giải phóng tiếp quản Nha Trang. Ngày 6 tháng 4 năm 1975, Ủy ban Quân quản Khánh Hòa chia Nha Trang thành 3 đơn vị hành chính: quận 1, quận 2 và quận Vĩnh Xương.
Tháng 9 năm 1975, hợp nhất hai quận: quận 1 và quận 2 thành thị xã Nha Trang.

< Cứ mỗi đoạn dừng ven hồ lại có một khung cảnh khác nhau.

Ngày 30 tháng 3 năm 1977, theo quyết định số 391-CP/QĐ của Hội đồng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thị xã Nha Trang được nâng lên cấp thành phố trực thuộc tỉnh và là tỉnh lỵ tỉnh Phú Khánh (bao gồm hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa hiện nay). Phần đất 7 xã của huyện Vĩnh Xương cũ trước đây là Vĩnh Thái, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Lương, Vĩnh Trung, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phương được cắt ra khỏi huyện Khánh Xương sáp nhập vào Nha Trang.

< 'Nửa kia' phi lên gò đá chụp cho rõ.

Quyết định số 54-BT ngày 27 tháng 3 năm 1978 thành lập xã Phước Đồng thuộc Nha Trang.
Ngày 1 tháng 7 năm 1989, tái lập tỉnh Khánh Hòa từ tỉnh Phú Khánh cũ, Nha Trang là tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 22 tháng 4 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 106/1999 công nhận Nha Trang là đô thị loại 2.
Ngày 22 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định công nhận TP. Nha Trang là đô thị loại I.


< Và tấm ảnh mà cô nàng chụp đây.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, tên "Nha Trang" được hình thành do cách đọc của người Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là Ya Trang hay Ea Trang (có nghĩa là "sông Lau", tiếng người Chăm, tức là gọi sông Cái chảy qua Nha Trang ngày nay, con sông này đổ ra biển đúng chỗ có nhiều cây lau). Từ tên sông, sau chỉ rộng ra vùng đất từ năm 1653.
< Trên hồ có vài cù lao nhỏ...

Lại có cách lý giải khác rằng: Đầu thế kỷ trước, thành phố Nha Trang ngày nay còn là một bãi biển hoang sơ với một làng chài vài mươi nóc nhà tranh ở xóm Cồn. Chỉ có duy nhất một ngôi nhà xây 2 tầng lầu màu trắng là nhà làm việc của Bác sĩ Alexandre Yersin (lầu ông Năm). Người đến đây bằng đường biển sẽ thấy ngôi nhà trắng trước tiên, Nha Trang chính là "nhà trắng" được gọi chệch đi. Đó là cách kiến giải về xuất xứ tên gọi Nha Trang của những người ngưỡng mộ A. Yersin, một công dân đặc biệt của thành phố.

< Cù lao thần tiên này to hơn: lần sau mình lên đây sẽ 'cắm dùi' chiếm đảo (he he).

Về địa danh "Nha Trang": trong Toàn tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, tập bản đồ Việt Nam do nho sinh họ Đỗ Bá soạn vào khoảng nửa sau thế kỷ 17 đã thấy có tên "Nha Trang Môn" (cửa Nha Trang).

< Mãn nhãn với hồ rồi thì lại đi. Từ bây giờ đã bắt đầu vào những dốc...

 Trong một bản đồ khác có niên đại cuối thế kỷ 17 mang tên Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy ghi tên "Nha Trang Hải môn" (cửa biển Nha Trang). Trong thư tịch cổ Việt Nam, đây có lẽ là những tài liệu sớm nhất đề cập đến địa danh nổi tiếng này.
< và cua...

Ngày nay, Nha Trang gồm 27 đơn vị hành chính, gồm có:
- 19 phường nội thành là: Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Vĩnh Thọ, Xương Huân, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phương Sơn, Ngọc Hiệp, Phước Hòa, Phước Tân, Phước Tiến, Phước Hải, Lộc Thọ, Tân Lập, Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Phước Long (thành lập tháng 11 năm 1998), Vĩnh Hòa (thành lập tháng 4 năm 2002).

< ... liên tục. Bắt đầu có những tấm bảng báo độ cao: 100m, 200m...

- 8 xã ngoại thành là: Vĩnh Phương, Vĩnh Trung, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Thái, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Lương và Phước Đồng.

Từ năm 1998 đến nay, do tốc độ phát triển đô thị gia tăng, nhiều khu quy hoạch mới đã được hình thành như: Hòn Rớ, Bắc Việt, Thánh Gia, Đường Đệ, Hòn Khô, An Viên...
Riêng thành phố Nha Trang là Đô thị loại 1 thuộc tỉnh Khánh Hòa.

< Nhưng vẫn còn xa lắm vì đỉnh Hòn Bà cao tận 1500m với hàng loạt những cua quẹo hiểm hóc.

Về các danh lam thắng cảnh đẹp tại Nha Trang, bạn sẽ xem tiếp trong những bài sau.

Còn tiếp
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6 - Phần 7 - Phần 8 - Phần 9 - Phần 10 - Phần 11 - Phần 12 - Phần 13 - Phần 14 - Phần 15 - Phần 16

Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!